Connect with us

Bệnh viện thú y

Bệnh viêm phế quản ở chó, mèo – Bệnh viện thú y – Học viện Nông Nghiệp Việt Nam

Published

on

I.
KHÁI NIỆM

Bệnh viêm phế quản
là bệnh viêm niêm mạc đường hô hấp, viêm phế quản hay phế quản nhỏ sau đó dẫn đến
viêm khí quản. Bệnh nặng dẫn đến viêm phổi.

Bệnh hay xảy ra ở
chó, mèo khi thời tiết thay đổi từ ấm áp sang lạnh ẩm, thường từ cuối thu sang
đông và đến đầu mùa xuân.

Hình ảnh bác sỹ đang khám bệnh cho mèo tại Bệnh viện thú y – Học viện Nông nghiệp Việt Nam

II.
NGUYÊN NHÂN BỆNH

Con vật nhiễm cùng
lúc một số loài vi khuẩn gây bệnh đường hô hấp như: liên cầu, tụ cầu,
Klebsiella pneumonia, Bordetella bronchiseptica.

Thường kế phát của
một số bệnh nhiễm trùng như Carê, viêm ruột, bệnh ký sinh trùng.

Do thời tiết và vệ
sinh môi trường, hít phải khói, bui, hóa chất gây kích thích đường hô hấp.

Do thức ăn, nước uống
sặc xuống đường hô hấp

III.
TRIỆU CHỨNG

Do chất kích thích
vào đường hô hấp, tác động đến thần kinh gây ho và nếu tác động lâu sẽ sinh bệnh
tích viêm, niêm mạc sưng do viêm hoặc sung huyết sẽ làm hẹp đường hô hấp. Các
chất phân tiết bịt kín đường thông khí làm cho khó thở; do vậy, con vật có những
biểu hiện đặc trưng như:

Con vật ho, khó thở,
nhất là vào buổi sáng, lúc đầu ho khan, sau trở thành ho ướt và kéo dài.

Thở khò khè, có tiếng
ran, chảy nước mắt, mũi liên tục.

Có thể kèm theo sốt
39,5-40,5⁰C, con vật mệt mỏi, bỏ ăn.

Viêm phế quản mãn
tính thường không sốt nhưng ho kéo dài, có lúc ho ra đờm đặc nhầy.

IV.
PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH

4.1.
Phòng bệnh

Nơi ở của chó mèo
phải luôn vệ sinh sạch sẽ, ăn uống đủ chất, chỗ nằm phải đảm bảo ấm mùa đông,
thoáng mùa hè.

Tiêm vắc xin phòng
bệnh cho chó định kỳ các loại vắc xin sau: dại, Carê, Parvovirus, Viêm gan truyền
nhiễm, ho của chó… để không nhiễm các bệnh truyền nhiễm khác, trên cơ sở đó chó
có khả năng đề kháng bệnh về hô hấp.

4.2.
Điều trị

Nguyên tắc chung:

Dùng kháng sinh diệt
nguyên nhân gây bệnh.

Thuốc chữa trị triệu
chứng.

Thuốc bổ trợ.

Hộ lý: tăng
cường chăm sóc, nuôi dưỡng tốt

Rate this post
Continue Reading
Click to comment

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bệnh viện thú y

Affenpinscher (chó khỉ)

Published

on

By

  1. NGUỒN GỐC: 

 Nguồn gốc từ Đức và có niên đại từ thế kỷ
XVIII. Tên của giống chó này có nguồn gốc từ tiếng Đức Affe (khỉ).

Loài này có trước và là tổ tiên của chó
Griffon Bruxellois (Brussels Griffon) và chó Miniature Schnauzer. Chó
Affenpinscher đã được biết đến từ khoảng năm 1600, nhưng những con chó
Affenpinscher của thế kỷ XVI có phần lớn hơn, khoảng 12 đến 13 inch, và có màu
xám, nâu vàng, đen và nâu và đỏ. Chân trắng và ngực trắng là rất phổ biến. Loài
này đã được tạo ra để trở thành một loài bắt chuột, được nuôi để loại bỏ động vật
gặm nhấm ra khỏi nhà bếp, kho gạo và chuồng nuôi súc vật.

  • ĐẶC ĐIỂM NGOẠI HÌNH:

Một con chó giống Affenpinscher thường có
khối lượng từ 2.9-6.0kg, chiều cao trong khoảng 23-30cm tính đến vai.

Đặc trưng bởi bộ râu và cặp lông mày dài làm cho nó trông giống như một chú
khỉ và rất khôi hài. Affenpinscher được bao bọc bởi một lớp lông thô, dài khoảng
2,5cm khắp cơ thể và dài hơn một chút ở ngực, đầu, cổ, chân, bụng. Lớp lông của
nó có chức năng bảo vệ con vật khỏi các điều kiện thời tiết khắc nghiệt và côn
trùng.

Tiêu chuẩn giống
của FCI và KC quy định rằng lớp lông phải có màu đen,nhưng AKC cũng
cho phép các màu xám, bạc, đỏ, đen và nâu, và belge (hỗn hợp của các sợi lông đỏ,
nâu, đen và trắng).

Với một khung xương vừa phải, mạnh mẽ, nhỏ gọn
và vuông cân đối, Affenpinscher có cơ thể nhỏ hơn so với tiêu chuẩn của một chú
chó săn làm việc, nhưng trong thực tế nó không hề nhẹ nhàng, tinh tế như vẻ
ngoài nhỏ bé đó. Nó tỏ ra rất cứng cỏi, năng động và nhanh nhẹn đủ để rượt theo
và bắt chuột, thậm chí là những chú chuột nhắt. Cùng với đó, nó có một dáng đi
rất tự tin và nhẹ nhàng.

  • ĐẶC ĐIỂM TÍNH CÁCH:

Chó khỉ Affenpinscher là loài chó rất dễ
thân thiết với đồng loại và con vật khác khi nuôi lớn cùng. Là loài chó hoạt
bát,tinh khôn, dũng cảm, liều lĩnh và khá bướng bỉnh. Rất thích được đùa giỡn
và tinh nghịch, thích leo trèo và thường sủa nhiều. Là giống chó thân thiện,vui
vẻ và gần gũi với gia đình.

Loài chó này không thích hợp với trẻ nhỏ,chúng
luôn bảo vệ thức ăn và đồ chơi của mình.

Nó rất thông minh,học hỏi rất nhanh, dễ dàng
điều chỉnh để thay đổi, nó cũng nhạy cảm và dịu dàng.

Affenpinscher
thích hợp với các gia đình có tính hướng cá hoạt động giải trí và đời sống vui
vẻ.

  • CHĂM SÓC – SỨC KHỎE:

Chúng không thể sống ngoài trời nhưng lại rất
thích chơi ngoài trời. Những bài luyện tập và các trò chơi trong nhà rất thích
hợp với chúng. Ngoài ra đi dạo với một dây xích ngắn hoặc nô đùa ngoài trời
cũng là một cách tập luyện tuyệt vời đối với Affenpinscher.

Với bộ lông khá thô cứng, 1 tuần nên chải cho
chúng 2-3 lần và cắt tỉa sạch sẽ lại khoảng 3 tháng 1 lần – việc cắt tỉa, tạo
hình này cũng có thể thực hiện khi chú cún cảm thấy khó chịu và muốn trở nên
“mát mẻ” hơn.

Sức khỏe:

Tuổi thọ trung bình của chú cún Affenpischer
là 12-14 năm. Chúng thường mắc một số bệnh nhẹ như sai khớp bánh chè hay loét
giác mạc. Ngoài ra dù hiếm nhưng chúng cũng còn có thể mắc một số bệnh như hô hấp
kém, hở thóp…Để chẩn đoán chính xác nguyên nhân gây ra bệnh, các bác sỹ thú y cần
ưu tiên kiểm tra kỹ phần đầu gối cũng như tim của cún.

Rate this post
Continue Reading

Bệnh viện thú y

Bệnh giun đũa ở Chó và cách điều trị

Published

on

By

5.7.1. Lịch sử phát hiện bệnh

Giun đũa Toxocara canis được tìm thấy ở chó từ thế kỷ 18, nhưng phải đến năm
1908 khi Nutall và Strickland C. tìm thấy 17 trong số 24 chó ở Cambridge (Anh)
bị nhiễm loại ký sinh trùng này thì giun đũa T. canis mới bắt đầu được nghiên cứu nhiều.

Trường hợp
người bị nhiễm T. canis được mô tả đầu
tiên bởi Wilder H.C. vào năm 1950. Đến năm 1958, Sprent J.F.A. đã nghiên cứu
vòng đời và cơ chế truyền bệnh của giun đũa T.
canis
.

Ở Việt Nam, trước Cách mạng
tháng 8, Houdemer (1938) đã tìm thấy giun đũa ở chó Bắc Bộ. Năm 1975,
Capdevielle P. và cs. đã báo cáo về một trường hợp cổ chướng có tăng bạch cầu
ái toan ở một phụ nữ lớn tuổi tại Thành phố Hồ Chí Minh. Bệnh nhân sống ở nông
thôn, có tiền sử vàng da, uống rượu và nghiện hút thuốc lá nặng. Các tác giả
nghĩ đến nguyên nhân ký sinh trùng nhưng không biết loài nào, điều trị với Thiabendazole thì triệu chứng bệnh giảm
dần.

Cho đến
nay, bệnh do giun đũa T. canis gây ra
ở chó được quan tâm nghiên cứu nhiều vì tỷ lệ chó nhiễm bệnh ngày càng cao, ở
giai đoạn ấu trùng có khả năng nhiễm và gây bệnh cho người.

5.7.2. Tác nhân gây bệnh

Bệnh do hai loài giun tròn là Toxocara
canis,
thuộc họ AnisakidaeToxascaris leonina, thuộc họ Ascaridae gây nên. Giun ký sinh ở ruột
non, dạ dày của chó, cáo, chó sói và nhiều loài ăn thịt khác.

Hình thái, cấu tạo

– Loài T.
canis
: giun màu vàng nhạt, đầu hơi cong về phía bụng; có cánh đầu rộng, giữa
thực quản và ruột có dạ dày nhỏ (đây là đặc điểm của họ Anisakidae). Giun đực dài 5 – 10 cm, đuôi cong hơi tù, có cánh đuôi
và một đôi gai giao hợp dài bằng nhau (chiều dài 0,75 – 0,85 mm). Giun cái dài
9 – 18 cm, đuôi thẳng.

Trứng giun hơi tròn, vỏ trứng lỗ chỗ như tổ ong, vỏ dày, màu vàng, kích
thước 0,08 – 0,085 x 0,064 – 0,072 mm.

– Loài T. leonina: giun có cơ thể màu vàng nhạt, cánh đầu rất hẹp, hơi cong về phía lưng. Giun đực dài 4 – 6 cm, đuôi nhọn không tù như T. canis, không có cánh đuôi, có một đôi gai giao hợp dài bằng nhau (dài 1,2 – 1,5 mm). Giun cái dài 6,5 – 10 cm. Trứng giun hơi tròn, vỏ ngoài nhẵn, đường kính 0,075 – 0,085 mm.

Vòng đời

– Đối với loài Toxocara canis: giun cái sau khi thụ tinh đẻ trứng, trứng theo phân
ra ngoài, sau 5 ngày thành trứng có ấu trùng có sức gây bệnh. Khi chó nuốt phải
trứng này, tới ruột non ấu trùng nở ra, theo máu về gan, khí quản, vào miệng rồi
trở lại ruột non phát triển thành giun trưởng thành. Một số ấu trùng sau khi
vào phổi không vào phế quản mà vẫn theo đại tuần hoàn về các tổ chức làm thành
kén, ấu trùng ở trong kén không chết và cũng không phát triển. Nếu chó ăn phải
kén có ấu trùng thì vào ruột, ấu trùng tiếp tục phát triển thành giun trưởng
thành. Ấu trùng có thể truyền từ mẹ vào thai (bằng chứng là có những trường hợp
chó sơ sinh đã có giun đũa trưởng thành ký sinh).

– Đối với
loài Toxascaris leonina: trứng giun theo phân chó ra ngoài, gặp nhiệt độ và ẩm
độ thích hợp, sau 3 ngày phát triển thành trứng có sức gây bệnh. Chó nuốt phải
trứng, trứng nở thành ấu trùng, sau 3 – 4 tuần phát triển thành giun trưởng
thành.

3. Dịch tễ học

Loài mắc bệnh

Bệnh
thấy ở chó, cáo, chó sói và nhiều động vật ăn thịt khác. Chó ở mọi lứa tuổi đều
có thể bị nhiễm giun đũa, song loài T.
canis
ký sinh nhiều hơn ở chó con, còn T.
leonina
ký sinh nhiều hơn ở chó 6 tháng tuổi trở lên. Tỷ lệ nhiễm giun đũa ở
chó giảm dần theo tuổi (chó sơ sinh đến 4 tháng tuổi nhiễm 53%, 6 tháng – 1 năm
tuổi nhiễm 25%, trưởng thành nhiễm 12%).

Chó ngoại và chó cái nhiễm giun đũa cao (chó đực nhiễm 17%, chó cái nhiễm
28%; chó ngoại nhiễm 40,6%, chó nội nhiễm 28,1%).

Nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn ở chó nuôi
tại Hà Nội, Hoàng Minh Đức và Nguyễn Thị Kim Lan (2008) cho biết, chó nhiễm
giun đũa T. canis là 20%, T. leonina là 24,26%, tỷ lệ nhiễm giảm
theo tuổi chó (chó dưới 3 tháng tuổi nhiễm T.
canis
40,86%, 3 – 8 tháng tuổi nhiễm 25,89%, 8 – 12 tháng tuổi nhiễm
12,39%; đối với loài T. leonina: chó
dưới 3 tháng tuổi không thấy nhiễm, chó 3 – 8 tháng tuổi nhiễm 33,9%, 8 – 12
tháng nhiễm 42,1%, trên 12 tháng nhiễm 19,2%).

Nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu
hóa của chó tại xã Sơn Nga, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ của Dương Đức Hiếu và
cs (2014) cho biết, chó nhiễm Toxocara spp. là 66,67%

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2015)
cho biết, chó ở Phú Thọ nhiễm T. canis
qua mổ khám là 28,57%; cường độ nhiễm 1 – 6 giun/chó.

Chất chứa mầm bệnh

Trứng
giun đũa có trong phân của chó và những động vật mắc bệnh khác. Từ phân, trứng
có thể phát tán và được lưu trữ trong đất, nước và lẫn vào thức ăn, nước uống của
chó, người…

Phương thức truyền lây

Chó có thể nhiễm giun đũa T. canis
qua 3 đường: qua thức ăn, nước uống; ăn thịt chó còn sống có kén mang ấu trùng;
qua bào thai. Người nhiễm chủ yếu do nuốt phải trứng giun đũa chó qua thức ăn,
nước uống, hoặc qua tiếp xúc với chó (bồng bế chó)

Trứng giun đũa có sức đề kháng mạnh, có thể phát triển được trong các
dung dịch clorua thuỷ ngân, sunfat đồng nồng độ cao.

Cơ chế sinh bệnh

Ở chó

Ấu trùng di hành làm tổn thương một số cơ quan, tổ chức (gan, phổi, mạch
máu…). Nếu nhiều giun trưởng thành ký sinh thì gây tắc ruột, có khi thủng ruột.
Giun chui vào ống dẫn mật làm tắc ống dẫn mật, chó có thể chết.

Ấu trùng giun còn mang vi khuẩn đến các cơ quan, tổ chức gây viêm.

Ở người

Giun đũa Toxocara spp. trưởng thành
ký sinh ở chó, sau khi thụ tinh đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài, gặp điều kiện
thuận lợi phát triển thành trứng có sức gây bệnh. Người có thể nhiễm ấu
trùng giun đũa Toxocara spp. do ăn phải thức
ăn, nước uống có lẫn trứng có sức gây bệnh hoặc do dùng tay bị ô nhiễm trứng có
sức gây bệnh cầm thức ăn ăn.

Vào cơ thể người, trứng Toxocara spp. giải phóng ra ấu trùng, ấu trùng này di hành đến mắt
hoặc các cơ quan khác trong cơ thể (như não, mắt, các cơ quan nội tạng) và gây
tác hại cho cơ thể người.

4. Bệnh ở chó

 Triệu chứng

Con vật gầy còm, chậm lớn, thiếu máu ăn kém, nôn mửa, táo bón, sau ỉa chảy.
Bụng chướng to, lông xù. Có khi có triệu chứng giống thần kinh như động kinh
hay bệnh dại.

Bệnh tích

            Xác chết gầy, lông xung quanh hậu môn dính phân bẩn. Mổ khám thấy nhiều giun đũa ở ruột non, có thể thấy giun tập trung thành búi, gây tắc ruột. Ruột non viêm cata, có nhiều điểm xuất huyết.

Chẩn đoán bệnh

Đối với chó còn sống: xét nghiệm phân bằng phương pháp phù nổi tìm trứng giun đũa. Phân biệt
trứng của hai loài giun trên, đồng thời theo dõi triệu chứng lâm sàng của con vật.

Đối với chó đã chết: mổ khám tìm giun đũa ở ruột non và dạ dày chó.

5. Bệnh ở người

Cortés N. N. và cs.
(2015) đã kiểm tra 183 mẫu huyết thanh của trẻ em 3 – 16
tuổi tại Amecameca và Chalco thuộc México. Kết quả cho thấy, có 22 mẫu dương tính với T. canis,
chiếm tỷ lệ 12,02%. Trong đó có 6,50% số bé trai và 5,4% số bé gái dương tính với
bệnh do giun T.
canis
gây ra.

Borecka A. và Kłapeć T. (2015) cho biết: Tại Ba Lan, giai đoạn từ năm 1994 – 2005, kiểm tra 18.367 mẫu huyết thanh của người nghi ngờ bị nhiễm Toxocara, kết quả cho thấy tỷ lệ mẫu huyết
thanh dương tính biến động qua các năm nghiên cứu từ 1,8 – 76%. Trong giai đoạn
từ năm
1978 – 2009, đã ghi nhận 1.022 trường hợp thể hiện
các triệu chứng lâm sàng của bệnh.

Antolová D. và
cs. (2015) đã kiểm tra 429 mẫu huyết thanh người dân tộc
Roma sống thành quần thể riêng thuộc Đông Slovakia, thấy 22,15 số mẫu dương tính với T. canis. Triệu chứng của những người bị bệnh bao gồm: nhức đầu, đau cơ bắp, tiêu chảy và
có các triệu chứng
giống bệnh cúm (ho, sốt
bất thường khó thở…).

Triệu chứng

Người nhiễm ấu trùng giun đũa chó có biểu hiện
lâm sàng rất đa dạng, khó xác định, phụ thuộc nhiều vào số lượng, vị trí ký
sinh của ấu trùng và đáp ứng của cơ thể người bị nhiễm. Gồm có hai nhóm triệu chứng chính:

– Hội chứng ấu trùng di chuyển nội tạng, có các
triệu chứng chung như: mệt mỏi, ăn kém, thể trạng yếu, sốt bất thường và có dạng
dị ứng (nổi mẩn ngứa, nổi ban, mề đay…). Tuy nhiên, các biểu hiện lâm sàng cho
dù là điển hình, cũng rất dễ nhầm với các bệnh khác.

– Bệnh ấu trùng giun đũa chó ở mắt: bệnh có triệu
chứng giảm thị lực, viêm mắt hoặc gây tác động có hại đến võng mạc. Thông thường
thì mắt nào có ấu trùng ký sinh mới thể hiện triệu chứng của bệnh.

Ngoài ra, ít gặp nhóm thứ ba là bệnh “Toxocara spp. biến đổi” (Convert Toxocariosis). Trường hợp này thấy
ở những bệnh nhân có huyết thanh chẩn đoán giun đũa chó dương tính kết hợp với
một số triệu chứng hay dấu hiệu lâm sàng có tính hệ thống và khu trú ở một số
vùng nhất định của cơ thể nhưbụng
(đau bụng), thần kinh (khiếm khuyết về tâm thần, động kinh), phổi (suyễn), da (dị
ứng kéo dài).

Theo Iddawela D. R. và cs. (2003), ấu trùng giun đũa Toxocara canis ký sinh ở người gây ra
tình trạng đau bụng (45%), ho (30%), đau mình mẩy (23%), nổi mề đay (20%).

giun
ở dạ dày của chó. Niêm mạc ruột non viêm cata, có nhiều điểm tụ huyết và xuất
huyết.

Chẩn đoán

Do ấu trùng giunToxocara spp. không phát triển được thành dạng trưởng thành
và không có khả năng sinh sản ở người, nên khi xét nghiệm phân người sẽ không chẩn
đoán được bệnh. Chỉ có thể chẩn đoán bệnh ấu trùng giun đũa chó ở người bằng
phương pháp huyết thanh học để phát hiện kháng thể kháng Toxocara spp. trong máu người (có thể sử dụng kỹ thuật ELISA để chẩn
đoán bệnh ở người)..

6. Phòng, trị bệnh

8.1.
Tẩy giun đũa cho chó

Có thể tẩy giun đũa cho chó bằng một trong các thuốc sau:

Piperazin hydrat: liều 100 – 150 mg/kg TT. Trộn thức ăn cho chó ăn.

Piperazin citrat: liều 150 mg/kg TT. Trộn thức ăn cho chó ăn.

Piperazin adipate: liều 100 mg/kg TT. Trộn thức ăn cho chó ăn.

Levamisol: liều 15 – 20 mg/kg TT. Trộn thức ăn cho chó ăn.

Hiệu quả tẩy rất
cao và an toàn.

Mebendazol: liều 90 – 100 mg/kg TT. Trộn thức ăn cho chó ăn.

Thuốc an toàn và
hiệu quả cao.

Hoàng Minh Đức và Nguyễn Thị Kim Lan (2008) đã sử dụng thuốc levamisol,
liều 15 mg/kg TT để tẩy giun đũa cho chó, kết quả cho thấy, thuốc có hiệu lực tẩy
đạt 86,66%, trong khi dùng thuốc sanpet (liều 25 mg/kg TT), hiệu lực tẩy giun
đũa và các giun tròn khác đạt 93,33%.

8.2.
Điều trị bệnh ấu trùng giun đũa chó cho người

Điều trị nội khoa: Phần lớn những trường hợp mắc bệnh ấu trùng giun đũa chó ở người mức độ
nhẹ có triệu chứng không rõ ràng, vì vậy bệnh nhân thường không đến khám và diều
trị tại các cơ sở y tế. Sau đó, bệnh có thể tự khỏi sau vài tuần hoặc vài tháng.
Vấn đề điều trị bằng thuốc chống ký sinh trùng thường được áp dụng đối với những
trường hợp người mắc bệnh nặng như tổn thương ở phổi, não, tim, hoặc ngứa ngáy,
nổi mề đay nặng Có thể sử dụng một trong những thuốc sau:

Albendazole: liều 10 – 15 mg/kgTT/ngày x 15 – 21 ngày.

Mebendazole: liều 100 mg x 2 lần/ngày x 3 ngày
(thuốc này không khuyến cáo dùng cho trẻ dưới 2 tuổi).

Thiabendazole: 50 mg/kgTT/ngày,
chia 2 lần x 7 ngày, không vượt quá 3 gam/ngày.

Dietylcarbamazine: 6 mg/kgTT/ngày,
chia 3 lần x 10 ngày (thuốc này không khuyến cáo
dùng cho trẻ em).

Điều trị
ngoại khoa
: Biện pháp điều trị ngoại khoa được đặt ra đối với những trường
hợp bệnh nhân nhiễm ấu trùng giun đũa chó ở mắt.  

Trần Trọng Dương
(2013) đã sử dụngalbendazoleđiều trị bệnh ấu trùng giun đũa chó ở
người tại 2 xã thuộc huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định, với liều 10 mg/kg/ngày ở trẻ
em (5 – 15 tuổi) và 15 mg/kgTT/ngày ở người lớn (trên 15 tuổi) trong 21 ngày. Kết
quả sauđiều trị 1 tháng cho thấy, các
triệu chứng lâm sàng đều giảm đi rõ rệt: mẩn ngứa (37,3% – 4%), nổi mề đay
(4,7% – 0,8%), đau mình mẩy (19% – 0), đau bụng (6,4% – 1,6%), đau đầu (8,7% –
0), sốt (4% – 0), rối loạn tiêu hóa (6,4% – 0,8%), các triệu chứng khác chiếm 13,5%
– 1,6%; các xét nghiệm cận lâm sàng cũng cho thấy 96,0% số bệnh nhân có bạch cầu
ái toan giảm đến mức giới hạn bình thường.

8.3. Phòng và kiểm soát bệnh

            Tăng cường quản lý đàn chó:
không thả rông chó; nuôi chó nhốt trong cũi (chuồng), vệ sinh thức ăn và nước uống
cho chó; định kỳ cọ rửa, tiêu độc cũi và nền chuồng.

Để phòng nhiễm ấu trùng giun đũa chó, người cần thực hiện
tốt việc ăn chín uống sôi, không tiếp xúc trực tiếp với chó, không bề bồng chó.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Quyên, Nguyễn Thị Ngân, Bùi Chí
    Vinh, Bùi Văn Dũng (2015). “Tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở chó tại
    thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ”, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, tập XXII. Số
    4 – 2015, tr 68 – 75.
  2. Dương Đức Hiếu, Bùi Khánh Linh, Sử Thanh Long
    (2014), “
    Bước đầu nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường
    tiêu hóa của chó tại xã Sơn Nga, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ”, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, tập
    XVIII. Số 8 – 2014.
  3. Lê Văn Đoan, Võ Hữu Hội (2008), “Nhân 02 trường hợp nhiễm ấu trùng
    giun đũa chó nội tạng được chẩn đoán và điều trị tại Khoa Nhi BV Đà Nẵng”, Nguồn:
    http://khoanhidanang.com.vn/detail.php?dm=1&id=5.
  4. Huỳnh Hồng Quang (2008), Toxocara
    canis
    Toxocara cati một bệnh
    gây ra do ký sinh trùng,
    Nguồn: http://news.bacsi.com/kien-thuc/chuyen-khoa/toxocara-canis-va-toxocara-cati-mot-benh-gay-ra-do-ky-sinh-trung.
  5. Antolová D., Jarčuška P., Janičko
    M., Madarasová-Gecková A., Halánová M., Čisláková L., Kalinová Z. Reiterová K.,
    Škutová M., Pella D., Mareková M. (2015), “Seroprevalence
    of human Toxocara
    infections in the Roma and non-Roma populations of Eastern Slovakia: a
    cross-sectional study”, Epidemiol Infect,
    143(10), pp. 2249 – 2258.
  6. Borecka
    A., Kłapeć T. (2015), “Epidemiology of human toxocariasis in Poland – A review of
    cases 1978 – 2009”, Ann Agric Environ Med., 22(1), pp. 28 – 31.
  7. Cortés
    N. N., Núñez C. R., Guiliana B. G., García P. A., Cárdenas R. H. (2015), “Presence of anti-Toxocara canis
    antibodies and risk factors in children from the Amecameca and Chalco regions
    of México”, BMC Pediatr, 15 (65).
  8. Despommier D. (2003). “Toxocariasis: clinical aspects,
    epidemiology, medical ecology, and molecular aspects”. Clin Microbiol Rev, 16 (2), pp. 265 – 272.
  9. Holland, Celia and Smith
    H.V. (2006) Toxocara: The Enigmatic
    Parasite
    . Wallingford, UK and Cambridge, MA: CABI Publishing, <http://site.ebrary.com/lib/stanford/docDetail.action?docID=10157926>
  10. Iddawela
    D. R., Kumarasiri P. V., de Wijesundera M. S. (2003), “A seroepidemiological study of
    toxocariasis and risk factors for infection in children in Sri Lanka”, Southeast
    Asian J Trop Med Public Health
    , Vol. 34, No. 1, pp. 7 – 15.
  11. Marty,
    Aileen (2000). Toxocariasis Chapter 27, pages 411- 421 in Meyers WM, Neafie RC,
    Marty A. M., Wear D. J. (Eds) Pathology of Infectious Diseases Volume I:
    Helminthiases. Armed Forces Institute of Pathology, Washington DC.;http://www.afip.org/cgi-bin/description.cgi?item=FS28.

Rate this post
Continue Reading

Bệnh viện thú y

Chó mèo bị rối loạn tiêu hóa tiêu chảy và cách xử lý

Published

on

By

Trong cuộc sống hằng ngày thì con người cũng như động vật việc hệ tiêu hóa gặp vấn đề là việc khá thường xuyên xảy ra . Do đó việc chó mèo bị rối loạn tiêu hóa tiêu chảy là cũng không hiếm gặp . Vậy chúng ta phải làm thế nào khi chó mèo bị rối loạn tiêu hóa tiêu chảy , cùng tham khảo kỹ bài viết sau đây của chúng tôi các bạn sẽ có cái nhìn khái quát và phương hướng điều trị đúng để tránh gây ra các biến chứng nguy hiểm cho chú cún chú meo nhà bạn nhé .

Nguyên nhân khiến chó mèo bị rối loạn tiêu hóa tiêu chảy

Chó và mèo bị rối loạn tiêu hóa sẽ bị ảnh hưởng đến dạ dày và ruột của chó dẫn đến ảnh hưởng đến sức khỏe của chú chó của bạn đang nuôi nếu chó bị rối loạn tiêu hóa lâu ngày mà không phát hiện ra để chữa trị kịp thời thì nó có thể biến chứng sang các bệnh khác như đường ruột, táo bón

Tiêu chảy thông thường

Một số nguyên nhân gây tiêu chảy thông thường:

– Stress: Thí dụ nếu chó không quen đi xe, khi mang tới thú y, cho chó vào lồng, có thể làm nó tiêu chảy. Thường bệnh sẽ qua rất nhanh.

hình ảnh một chú chó bị rối loạn tiêu hóa tiêu chảy

– Thay đối thức ăn đột ngột: Một số giống chó rất nhạy cảm với việc thay đổi thức ăn, dẫn đến tiêu chảy. Do đó, phải thay đổi thức ăn từ từ trong 1-2 tuần.

– Thức ăn thừa: bị hư, nhiều mỡ, có vật lạ (ví dụ như mảnh xương cứng như xương gà) hoặc cho ăn quá nhiều,…Chó trưởng thành khi bị tiêu chảy thông thường có thể khống chế bằng cách cắt thức ăn. Khi dạ dày chó rỗng 12-24 giờ, ruột sẽ được nghỉ, có thời gian lành viêm sưng và  ruột sẽ không có gì để đẩy ra. Hiếm trường hợp chó trưởng thành bị hạ lượng đường máu khi bị cắt ăn. Nếu thấy chó có vẻ yếu, ngủ lịm hay suy kiệt có thể cho uống đường glucose hay mật ong trên nướu trong khi chuẩn bị đưa đến thú y.

Tiêu chảy nguy hiểm

khi tiêu chảy là biểu hiện của nhiều bệnh nghiêm trọng trên chó mèo như:

– Các bệnh do virus gây ra: Carré (Distemper), Parvovirus, Viêm gan (Hepatitis),giảm bạch cầu ở mèo…

– Các bệnh do vi khuẩn gây ra: Leptospira, E.coli, Salmonella, …

– Bệnh do ký sinh trùng, nguyên sinh động vật gây ra hoặc cùng kết hợp như: giun đũa, giun móc, giun tóc, sán, cầu trùng, Giardia,…

Các dấu hiệu của bệnh rối loạn tiêu hóa tiêu chảy ở chó mèo

Mức độ Quá cấp

chó mèo bị đau quặn vùng bụng, thân thể lạnh, suy nhược nghiêm trọng (ở mức độ này thông thường chó mèo sẽ chết, khó cấp cứu thành công);

Mức độ Cấp

tình trạng chó mèo sốt cao trong ngày đầu, bỏ ăn, không vận động, niêm mạc tái nhợt;

Mức độ thường

khiến chó mèo nôn ra mật có bọt, phân có mùi thối khắm, đôi khi lẫn máu.

Khi bị mắc chứng rối loạn tiêu hóa, Chó Mèo thường có các biểu hiện như bụng to lên; nôn mửa; phân dạng lỏng, chứa cả thức ăn chưa tiêu hóa; tiêu chảy nhiều lần… Việc đi phân lỏng dẫn đến chó mèo mất sức, sức khỏe suy yếu dần. Đặc biệt, có những trường hợp chó mèo đi phân ra máu do nhiễn ký sinh trùng từ môi trường xung quanh, liếm bộ lông của chúng dẫn tới việc chó mèo tử vong.

Cách chữa trị chó mèo bị rối loạn tiêu hóa tiêu chảy

Nếu như thấy chó mèo của bạn có những triệu trứng nêu trên thì cần tiến hành ngay biện pháp chữa trị. Thông thường, việc chữa trị sẽ kéo dài khoảng 10 ngày phụ thuộc vào mức độ nặng nhẹ của bệnh tình và sự kiên nhân trong việc chăm sóc của bạn.

Đầu tiên, cần đưa mèo đến cơ sở thú y khám chữa bệnh chó mèo gần nhất. Trong trường hợp, nếu không có cơ sở khám chữa bệnh cho thú y, bạn cần ngưng cho ăn, chỉ cho uống và kiểm tra lại những nguyên nhân có thể gây bệnh (thức ăn, nước uống, thời tiết …). Tuyệt đối không được uống sữa, uống sữa sẽ làm tình trạng bệnh tình thêm nguy kịch. Tiếp theo cần vệ sinh nơi ở của chó mèo đảm bảo vệ sinh, tránh việc lây nhiễm sang vật nuôi khác cũng như tránh việc phát triển của vi khuẩn gây bệnh.

Khi thấy chó mèo của bạn có dấu hiệu phục hồi, bạn sử dụng các thực phẩm bổ trợ, trợ sức như các vitamin, cho ăn đồ ăn ít nhưng cần thái nhỏ, nấu chín, hạn chế đồ tanh (ví dụ ăn như thịt lơn chín thái nhỏ, thức ăn hạt…) tại thời điểm này tuyệt vẫn không nên cho ăn cá, sữa, trứng sẽ khiến tình trạng bệnh thêm nặng. Nếu có điều kiện kinh tế, bạn mua thịt bò nấu chín thái nhỏ cho mèo ăn, ăn thịt bò sẽ giúp tăng hồng cầu trong máu, giúp mèo phục hồi nhanh hơn.

Bạn lưu ý: thay cát mèo đi vệ sinh tối thiểu 1 lần/ ngày, chó thì không dùng cát nên không cần thay, vệ sinh lau chùi nơi ở của chó mèo nữa nhé!

Nếu chó mèo mất nước: nhanh chóng bù nước.

– Mất nước nhẹ, không kèm ói có thể cấp nước bằng đường uống: Pha dung dịch điện giải. Nếu chó không uống, dùng ống tiêm bơm vào má nó 1-2 ml/kg thể trọng/giờ.

– Nếu tiêu chảy kèm theo ói: việc chó uống sẽ càng kích thích làm chó ói nhiều hơn nên phải cấp nước bằng đường tiêm truyền. Các đường tiêm truyền: Tiêm dưới da; Tiêm xoang bụng; Truyền tĩnh mạch

– Lượng truyền: trung bình 10-20 ml/ kg thể trọng (tùy tình trạng mất nước). Để chẩn đoán chính xác phải làm một số xét nghiệm, chú ý kiểm tra phân vì ký sinh trùng đường ruột thường là nguyên nhân khởi phát cho các bệnh đường tiêu hóa chó. Một số bệnh truyền nhiễm do virus gây ra không có thuốc điều trị đặc hiệu. Tuy nhiên, có thể sử dụng kháng sinh để kiểm soát tiêu chảy, phòng nhiễm trùng kế phát.

Các loại kháng sinh có thể chọn lựa và Thuốc trị triệu chứng vui lòng Liên hệ Hotline : 0392195389

Phòng Bệnh chó mèo bị rối loạn tiêu hóa tiêu chảy

Từ lúc chó mèo bị rối loạn tiêu hóa đến các biểu hiện xuất hiện ra ngoài thường diễn ra trong vòng vài ngày nên rất khó phát hiện chính vì thế mà người nuôi chó nên để ý đến hệ tiêu hóa của chó mèo và các biểu hiện của chó mèo thường xuyên hơn.

Tiêm phòng Vacxin

Tiêm phòng đầy đủ cho chó mèo , ở chó tiêm phòng mũi 7 bệnh 3 lần mỗi mũi cách nhau 21 ngày . Ở mèo tiêm phòng mũi 4 bệnh 3 lần các mũi cách nhau 30 ngày . Quý độc giả có như cầu tiêm phòng cho chó mèo vui lòng tham khảo bài viết sau .

Chế độ ăn và thức ăn

Để phòng ngừa chó bị tiêu hóa các bạn nên chó chó mèo ăn đúng bữa, đủ chất, ăn thực phẩm sạch sẽ và được nấu chín, cho chó tập thể dục thường xuyên. Khi thả chó mèo nên chú ý không để chó mèo ăn các đồ vật linh tinh và vui đùa cùng các chú chó đang nhiễm bệnh.

Cho chó mèo ăn thức ăn nấu chín, không cho ăn thịt sống và trứng sống, vì trong thịt sống và trứng sống dễ bị nhiễm các loại vi khuẩn gây bệnh đường tiêu hóa như: vi khuẩn thương hàn, trực khuẩn yếm khí, vi khuẩn E.coli. Không cho chó mèo ăn thức ăn ôi thối, cho uống nước sạch không nhiễm bẩn.

Tẩy Giun

Thực hiện tẩy giun sán định kỳ cho chó mèo cứ 2-4  tháng tẩy 1 lần để tránh gây tác hại cơ giới dẫn đến viêm ruột cấp.

Vệ sinh chuồng trại

Cọ rửa tẩy trùng nơi ở , chuồng , lồng trại của chó mèo để tiêu diệt bớt các virus vi khuẩn gây bệnh , và diệt sạch mầm bệnh .

Hi vọng qua bài viết các bạn có được những kinh nghiệm quý báu và các hướng xử lý cũng như cách xử lý kịp thời khi chó mèo nhà bạn gặp phải bệnh rối loạn tiêu hóa tiêu chảy.

Rate this post
Continue Reading

Trending

Bạn không thể sao chép nội dung của trang này