Connect with us

Du Lịch

Di sản văn hóa là gì ? Phân biệt các loại hình di sản văn hóa

Published

on

Khái niệm di sản văn hóa và cách phân biệt các loại hình di sản văn hóa

Di sản văn hóa được xem là niềm tự hào của toàn thể người dân nước Nam. Bởi nó không đơn thuần là nét đẹp văn hóa mà đây còn được xem yếu tố ảnh hưởng đến quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Vậy di sản văn hóa là gì ? di sản văn hóa phi vật thể là gì ?.. hãy cùng tìm hiểu trong bài viết sau đây nhé.

Di sản văn hóa là gì

Di sản văn hóa được hiểu nôm na là các sản phẩm bao gồm vật chất và tinh thần có giá trị lịch sử – văn hóa – khoa học được lưu truyền từ đời này sang đời khác. Di sản là những “báu vật” được thiên nhiên ban tặng, là thành quả lao động sáng tạo và giữ gìn của ông cha ta trong suốt nhiều thế kỷ.

Có bao nhiêu loại di sản văn hóa  

Di sản văn hóa được chia ra làm hai loại là di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể. Mỗi loại sẽ gắn liền với những đặc trưng khác nhau.

Di sản văn hóa vật thể là gì 

Di sản văn hóa vật thể được dùng để chỉ các sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học. Bao gồm:

+ Di tích lịch sử – văn hóa.

+ Danh lam thắng cảnh.

+ Di vật., cổ vật, bảo vật quốc gia.

Di sản văn hóa phi vật thể là gì

Di sản văn hóa phi vật thể là các sản phẩm mang tính chất tinh thần gắn liền với cộng đồng hoặc cá nhân vật thể và không gian văn hóa liên quan. Những di sản này đều có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học nhất định. Bằng các hình thức như truyền miệng, truyền nghề, trình diễn,… những sản phẩm này đã và đang không ngừng được tái tạo và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Các di sản văn hóa phi vật thể có thể kế đến như:

+ Tiếng nói, chữ viết.

+ Ngữ văn dân gian.

+ Nghệ thuật trình diễn dân gian.

+ Tập quán xã hội và tín ngưỡng.

+ Lễ hội truyền thống.

+ Nghề thủ công truyền thống.

+ Tri thức dân gian.

Di sản văn hóa phi vật thể tiếng anh là gì

Di sản văn hóa phi vật thể tiếng anh là Intangible cultural heritage. Đây là những di sản văn hóa của mỗi dân tộc, quốc gia cần phải giữ gìn và phát huy.

Những di sản văn hóa Việt Nam đã được UNESCO công nhận

Theo thống kê thì cho tới thời điểm hiện tại, nước ta đã có tổng cộng 8 di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới. 11 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận.

Danh sách di sản văn hóa vật thể

Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng

Phong nha – Kẻ bàng được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới vào năm 2003. Vườn quốc gia này nằm tại Huyện Bố Trạch, Tỉnh Quảng Ninh với tổng diện tích lên đến 85,754 ha. Phong Nha – Kẻ Bàng không chỉ nổi bật bởi hệ thống hang động khổng lồ. Mà còn được biết đến với sự “hiện diện” của rất nhiều loài động vật nằm trong Sách Đỏ Việt Nam.

Hoàng thành Thăng Long

Đây là một thể thống nhất của hai khu di tích khổng lồ là khu Thành cổ Hà Nội và khu di tích khảo cổ học 18 Hoàng Diện. Khi đến tham quan tại nơi đây, du khách sẽ phần nào cảm nhận rõ nét dự thay đổi cũng như hành trình kinh tế – văn hóa – chính trị của người Việt trong suốt gần 1000 năm.

Quần thể danh thắng Tràng An

Nơi đây là sự kết hợp, giao thoa nét độc đáo của đá núi, hệ sinh thái, đồng lúa, hồ đầm,… Vào năm 2014, quần thể này đã chính thức “ghi danh” vào top di sản văn hóa thế giới. Với những đặc trưng riêng, quần thể Tràng An đang được lên kế hoạch đầu tư, phát triển trở thành khu du lịch tầm cỡ quốc tế.

Phố cổ Hội An

Được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới vào năm 1999. Nếu như những di tích khác đa phần chỉ là địa điểm du lịch thì tại quần thể danh thắng này lại tồn tại “sự sống” đúng nghĩa. Cho tới ngày nay, nơi đây vẫn diễn ra các hoạt động sinh hoạt hàng ngày của người dân bình thường.

Thánh địa Mỹ Sơn

Chính thức gia tăng thêm “chiều dài” danh sách di sản văn hóa thế giới vào năm 1999. Khu đền tháp này được phát hiện bởi M.C.Paris – một học giả người Pháp. Khu di tích này hiện đang tọa lạc tại Xã Duy Phú, Quảng Nam. Khu đền tháp được xây dựng với hơn 70 ngôi đền tháp theo lối kiến trúc đặc trưng của dân tộc Chăm – nghệ thuật kiến trúc.

Thành nhà Hồ

Được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới vào năm 2011 – sau 6 năm đệ trình hồ sơ. Tòa thành vô cùng nổi bật với quy mô kiến trúc bằng đá độc đáo “khổng lồ” hiếm hoi.

Vịnh Hạ Long

Được “ví von” như một tác phẩm nghệ thuật tuyệt vời được tạo ra bởi “bàn tay” vĩ đại của “Mẹ thiên nhiên”. Tại đây, hàng loạt các đảo đá, hang động được xen kẽ nhau tạo nên một không gian vô cùng hùng vĩ và huyền bí. Ngoài ra, Vịnh Hạ Long còn được biết đến với hệ sinh thái rừng ngập mặn, rừng cây nhiệt đới, rạn san hô,.. vô cùng đa dạng.

Chính vì những đặc trưng riêng “hiếm có khó tìm” này, năm 1994 Vịnh Hạ Long đã chính thức “ghi tên” vào danh sách di sản văn hóa thế giới.

Quần thể di tích Cố đô Huế

Được biết tới là kinh đô một thời của Việt Nam với nhiều nét đẹp “độc nhất vô nhị”. Với tổng diện tích hơn 500ha, quần thể này “chứa đựng” hàng loạt địa điểm đền chùa, lăng tẩm, thành quách,… Năm 1993 là mốc thời gian mà Cố đô Huế được UNESCO chính thức công nhận là Di sản văn hóa thế giới.

Danh sách di sản văn hóa phi vật thể

+ Nhã nhạc cung đình Huế.

+ Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.

+ Dân ca quan họ Bắc Ninh.

+ Ca trù.

+ Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc.

+ Hát Xoan.

+ Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương.

+ Đờn ca tài tử Nam Bộ.

+ Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh.

+ Nghi lễ và trò chơi kéo co.

+ Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ.

Ý nghĩa của việc bảo vệ di sản văn hóa

Bảo vệ di sản văn hóa không phải là câu chuyện của riêng một cá nhân hay một tổ chức. Mà đây là câu chuyện của cả một cộng đồng dân tộc. Trong quá trình hội nhập, nhịp sống thay đổi không ngừng thì việc bảo vệ các di sản được xem là điều vô cùng cần thiết. Việc này có tác động cũng như ảnh hưởng đến quá trình xây dựng và phát triển đất nước.

+ Lưu giữ được công sức và nét đẹp văn hóa truyền thống của các thế hệ trước.

+ Tạo “tiền đề” để các thế hệ sau tái tạo và phát triển. Nhằm cập nhật nền văn hóa tiên tiến nhưng vẫn không bị mất đi bản sắc dân tộc.

+ Góp phần làm phong phú nền văn hóa dân tộc nói riêng và di sản văn hóa thế giới nói chung.

+ Phát huy giá trị di sản nhằm tạo cơ hội phát triển du lịch.

+ “Xây dựng” hình ảnh, dấu ấn riêng của đất nước với bạn bè quốc tế.

Trên đây là một số thông tin xoay quanh về di sản văn hóa. Mong rằng qua bài viết trên, bạn đọc có thể nắm rõ được các khái niệm cơ bản về di sản là gì ? Cũng như biết thêm được danh sách các di sản văn hóa thế giới tại Việt Nam được UNESCO công nhận hiện nay. Ngoài ra, thông qua những chia sẻ trên, chúng tôi hy vọng rằng bạn đọc có thể nâng cao thêm ý thức bảo vệ di sản dân tộc của nước ta.

5/5 - (1 bình chọn)

Du Lịch

Hà Nội: Linh thiêng đền Sái

Published

on

By

Nằm trên núi Sái – một trong 7 ngọn núi thiêng thuộc dãy Thất Diệu Sơn, đền Sái (thôn Thụy Lôi, xã Thụy Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội) là nơi thờ Đức thánh Huyền Thiên Trấn Vũ – một trong bốn vị thần trấn giữ Thăng Long, người có công giúp vua An Dương Vương diệt trừ Bạch Kê Tinh để xây thành Cổ Loa.

Tương truyền, sau khi dời đô về Thăng Long, vua Lý Công Uẩn đã tới đây xin rước bài vị Đức thánh Huyền Thiên Trấn Vũ và lập đền thờ ngài tại kinh thành Thăng Long, lấy tên là đền Quán Thánh – một trong “Thăng Long tứ trấn”.

Hai bên sân phía trước đền Sái là hai ao hình tròn, được gọi là ao Tiên. Bước qua 15 bậc đá, du khách sẽ tới nghi môn gồm 5 cửa: Ở giữa là 3 cổng chính, rộng, được xây kiểu chồng diêm 2 tầng, 8 mái; hai bên là 4 trụ biểu. Hai cổng phụ hai bên nhỏ, có mái che và 2 trụ biểu nhỏ.

Qua nghi môn là tới gác chuông cao 2 tầng, được xây theo kiểu chồng diêm, 8 mái. Công trình này được phục dựng năm 1989. Trên gác treo quả chuông đúc vào thời vua Thành Thái (triều Nguyễn, trị vì từ năm 1889 đến 1907). Tiếp đó là tòa Kính thiên, chính giữa có tấm bia “Huyền Thiên Đạo Quán” niên đại Chính Hòa thứ 22, năm Tân Tỵ (1701). Bốn mặt bia khắc chữ, ca ngợi cảnh đẹp vùng núi Sái, lịch sử và công đức của Đức thánh Huyền Thiên Trấn Vũ.

Sau tòa Kính thiên là nhà tiền tế và chính điện. Chính điện có mặt bằng kiểu chữ “Công”, gồm tiền đường, thiêu hương và hậu cung. Tiền đường đã được dựng lại theo lối kiến trúc cổ. Hậu cung là công trình được bảo tồn gần như nguyên vẹn với gạch lát nền từ thời Lê, chính giữa là bức tượng Huyền Thiên Trấn Vũ làm bằng đất, sơn son thếp vàng, có chiều cao 2,25m, đường kính 0,9m. Trong đền hiện còn lưu giữ nhiều di vật, đồ thờ có từ thế kỷ XVII – XVIII. Phía sau đền là chùa Sái, tạo thành một quần thể phối thờ theo lối “tiền thần, hậu phật”.

Ngoài những nét đặc sắc về kiến trúc, đền Sái còn được biết đến với Lễ hội rước vua giả (ngày 11 tháng Giêng hằng năm) cùng những phong tục cổ truyền độc đáo được bảo tồn, lưu giữ đến ngày nay.

Có giá trị về nhiều mặt, đền Sái đã được xếp hạng Di tích lịch sử, nghệ thuật, kiến trúc cấp quốc gia năm 1986.

Thủy Hương

Rate this post
Continue Reading

Du Lịch

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đồng Nai

Published

on

By

Cập nhật:

Lượt xem: 13.997


Địa chỉ: 2 Nguyễn Văn Trị, TP. Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai


Tel: (0251) 3822 038; Fax: (0251) 3824 482


Email: svhttdl@dongnai.gov.vn


Website: svhttdl.dongnai.gov.vn


 


Trung tâm Xúc tiến Du lịch Đồng Nai


Địa chỉ: 2 đường 30/4, P. Trung Dũng, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai


Tel: (0251) 8820 844/ 3940 850


Email: ttxtdldongnai@gmail.com


Website: ttxtdldongnai.vn


Rate this post
Continue Reading

Du Lịch

Sơn La: Vân Hồ khai thác lợi thế phát triển du lịch

Published

on

By

Huyện Vân Hồ có khí hậu mát mẻ, cây cối tốt tươi tạo nên những cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, trù phú, cuốn hút du khách thập phương. Các tour du lịch đến với Vân Hồ khám phá, trải nghiệm vùng đất cao nguyên này ngày một nhiều hơn, người dân bắt đầu xây dựng các cơ sở lưu trú, kinh doanh nhà nghỉ, nhà hàng, khách sạn, nhưng đặc sắc nhất ở Vân Hồ là các nhà nghỉ cộng đồng (homestay) gần gũi với thiên nhiên, cho du khách những trải nghiệm thú vị về phong tục tập quán, nét văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc của vùng đất này.

Một góc homestay Vân Hồ Ecolodge tại bản Hua Tạt, xã Vân Hồ.

Huyện Vân Hồ có vị trí thuận lợi, đường giao thông thuận tiện để phát triển các loại hình du lịch sinh thái, cộng đồng. Ở Vân Hồ đang có các khu du lịch cộng đồng được nhiều du khách biết đến, như: Vân Hồ Ecolodge, Homestay A Chu, Khu du lịch rừng thông Hua Tạt, Khu du lịch cộng đồng các bản Nà Bai, Phụ Mẫu (xã Chiềng Yên)… Năm 2020, do ảnh hưởng của dịch Covid-19, nên lượng khách đến Vân Hồ giảm mạnh hơn 50% so với năm 2019 với khoảng 22.500 lượt khách, trong đó khách quốc tế trên 1.300 lượt, doanh thu đạt hơn 5 tỷ đồng.

Trong hành trình khám phá các điểm du lịch cộng đồng ở Vân Hồ, du khách sẽ được trải nghiệm các tour tự chọn, thưởng thức những vẻ đẹp của núi rừng hoang sơ hùng vĩ, ngắm những bản làng người Mông dưới những thung lũng mơ mận đang khoe sắc, ngắm những chàng trai, cô gái trong trang phục dân tộc sặc sỡ ném pa pao, chơi tâu tí giao duyên tìm bạn tình trong ngày tết. Đêm về, du khách được thưởng thức món thắng cố, nhâm nhi chén rượu ngô bên bếp lửa hồng trong tiết trời se lạnh, xem các tiết mục văn nghệ do chính những người dân bản địa biểu diễn đến tận đêm khuya.

Hòa mình cùng đoàn du khách đến từ Hà Nội, chúng tôi đến Vân Hồ Ecolodge, rộng chừng 1 ha, có 3 nhà sàn nghỉ cộng đồng, 8 căn bungalow sang trọng, có đủ các loại hoa nở bốn mùa. Vân Hồ Ecolodge là một khu nghỉ dưỡng yên bình tại bản Hua Tạt, xã Vân Hồ với thiết kế truyền thống, có bề ngoài giản dị nhưng vẫn toát nên sự sang trọng, đậm bản sắc văn hóa các dân tộc, gần gũi với thiên nhiên với đồi thông xanh mát và những đồi chè trải dài, có thể đón trên 100 du khách nghỉ qua đêm. Nghỉ ở đây, du khách có thể khám phá đời sống, cách làm và dệt vải thổ cẩm truyền thống của đồng bào dân tộc Mông, thưởng thức những đặc sản như thịt nướng, lợn hun khói, lợn bản, gà đen. Chị Tạ Thu Nga, đến từ Thành phố Hồ Chí Minh, cho hay: Tôi thật sự ngỡ ngàng với cách làm du lịch cộng đồng của người dân tộc Mông nơi đây, những ngôi nhà đơn sơ nhưng lại có kiến trúc thân thiện với môi trường, tạo nên không khí trong lành, thư giãn; được ăn món thắng cố, thịt treo gác bếp, bánh dày, cơm nếp gói lá. Tôi thích những điệu múa xòe hoa, kèn lá, đàn môi, tiếng khèn của những chàng trai Mông lúc trầm, lúc bổng, du dương, nghe da diết đến nao lòng. Rồi được mặc bộ trang phục thiếu nữ Mông, được học dệt vải, được lên núi ngắm mây bao phủ khi hoàng hôn buông xuống và được xem, thưởng thức tết của dân tộc Mông… Đây là một nơi trải nghiệm, nghỉ dưỡng lý tưởng.

Trải nghiệm Thác nước Tạt Nàng, tại xã Chiềng Yên, du khách sẽ được tận hưởng khí hậu mát mẻ của các cánh rừng nguyên sinh, lại có thác nước đổ xuống tạo nên một khung cảnh vô cùng thơ mộng, hữu tình. Hiện, Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam đã hỗ trợ huyện Vân Hồ đầu tư xây dựng nhà sinh hoạt cộng đồng diện tích hơn 500m², có kiến trúc rất hiện đại, để du khách đến nghỉ dưỡng, tận hưởng không gian thiên nhiên lý tưởng. Gặp chị Đoàn Thu Minh, du khách đến từ thành phố Hồ Chí Minh đang cùng những người bạn du lịch tại khu thác nước này, chị kể về hành trình 1 ngày  trải nghiệm: Chúng tôi được người dân địa phương đưa vào rừng già, ngắm các loại cây và những thảm thực vật còn nguyên sơ, có nhiều cây to mấy người ôm không hết; hai bên đường, hoa đỗ quyên đang rực rỡ màu đỏ và những cây đào rừng bắt đầu nở hoa, những cánh hoa đỏ tươi thắm quyến rũ, làm chúng tôi thi nhau chụp ảnh làm kỷ niệm. Chiều về lên đồi hái cam quýt ăn thỏa thích, rồi được ra chân thác nước nơi tắm cộng đồng, xua tan hết mệt mỏi của một ngày vào rừng khám phá. Tối đến, chúng tôi lại được quây quần bên mâm cơm, do chính người địa phương nấu với những món ăn đặc sản dân tộc. Không chỉ có vậy, khi ăn xong, chúng tôi lại được xem biểu diễn văn nghệ, do những cô gái dân tộc Thái biểu diễn, cô nào cũng trắng trẻo, xinh xắn, khỏe mạnh trong trang phục sặc sỡ. Những lời hát cất lên như gọi mời du khách, điệu múa uyển chuyển, với những đôi tay mềm mại, cùng tiếng nhạc dân tộc sôi động, cứ cuốn hút mọi người hòa theo. Rồi chúng tôi được hòa mình vào vòng xòe, nhảy theo tiếng hát, tiếng nhạc quanh ngọn lửa hồng. Đêm về yên tĩnh, thi thoảng có tiếng tắc kè kêu tìm bạn và những tiếng gà gáy điểm canh. Cái lạnh về đêm của miền Tây Bắc cùng với tình cảm của người dân nơi đây làm cho chúng tôi thêm yêu quý, tin tưởng nơi đây sẽ là điểm thu hút đông khách du lịch gần xa.  

Hầu hết du khách đến trải nghiệm các homestay ở huyện Vân Hồ đều có chung nhận xét về cách tổ chức khá chuyên nghiệp. Nhà sàn vẫn giữ được kiến trúc riêng biệt, rộng rãi, thoáng mát và sạch sẽ. Các homestay có thể đón cùng một lúc nhiều đoàn khách đông người tạo nên khung cảnh sôi động, nhộn nhịp, nhất là vào dịp cuối tuần. Đến đây, du khách không chỉ được trải nghiệm cuộc sống, sinh hoạt thường ngày của người dân bản địa, mà còn có thể tham gia nhiều hoạt động hấp dẫn tùy theo yêu cầu và sở thích. Đây là cách làm mới của đồng bào các dân tộc nơi đây, nhất là người dân tộc Mông, tất cả đều chung sức làm cộng đồng, những nhà có homestay thì có thu nhập từ du khách đến nghỉ, những nhà không làm homestay thì được hưởng lợi từ cung cấp thực phẩm nấu ăn hoặc làm các sản phẩm của dân tộc bán cho du khách, rồi biểu diễn các tiết mục văn nghệ truyền thống khi du khách yêu cầu. Tất cả các hộ làm dịch vụ đều niêm yết giá chung, nhiều người còn nghe và nói được tiếng Anh, giao tiếp được với khách du lịch nước ngoài, đem đến cho du khách cảm giác bình yên, sự thoải mái và thân thiện.

Chia tay Vân Hồ, khi đêm đã về khuya, đâu đó tại các homestay, ngọn lửa vẫn còn bập bùng sưởi ấm những vòng xòe bất tận, và những du khách đắm mình, say sưa với điệu múa khèn, ngây ngất trong tiếng sáo, đàn môi du dương như níu kéo, mời gọi du khách gần xa…

Minh Tuấn

Rate this post
Continue Reading

Trending

Bạn không thể sao chép nội dung của trang này