Connect with us

Du Lịch

Gốm Chu Đậu (Hải Dương) tinh hoa văn hóa Việt Nam

Published

on


Đây là 9 chữ vàng mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp ưu ái dành tặng gốm Chu Đậu. Mang nặng văn hóa thuần Việt với những đặc trưng tinh xảo, sau gần ba thế kỷ bị vùi sâu trong lòng đất, gốm Chu Đậu đã được khai phá và hồi sinh rực rỡ.



 


Chu Đậu là một trong những cái nôi của nghề gốm Việt Nam. Thôn Chu Đậu thuộc xã Thái Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Chu là thuyền, Đậu là bến. Chu Đậu là thuyền đậu bên bến sông. Bao nhiêu đời nay trong trí nhớ của những người còn sống, Chu Đậu là làng quê nhỏ, hiền hòa, nằm nép mình bên dòng sông Thái Bình. Đến khi xuất hiện những dấu vết về một trung tâm gốm phát triển rực rỡ nhiều thế kỷ trước tại chính địa danh này, Chu Đậu đã trở thành mảnh đất ấp ủ trong lòng nó một mỏ vàng quý giá, đó là lưu truyền về một dòng gốm bác học đạt đến đỉnh cao về kỹ thuật và nghệ thuật nổi tiếng bậc nhất trên thế giới thời bấy giờ.


 


Theo các nhà sử học, di tích làng gốm Chu Đậu bắt đầu tàn lụi vào sau thế kỷ thứ 15, 16. Đây là khu vực cuộc nội chiến Lê- Mạc diễn ra ác liệt nhất. Không những nông dân, những người thợ thủ công cũng chịu mức thuế quá nặng nề để cung ứng cho cuộc nội chiến kéo dài 60 năm với kết thúc là sự thất bại của nhà Mạc. Vào thời của Lê Trung hưng sau đó, đã từng thấy có nhiều văn bản, bia ký có niên hiệu nhà Mạc bị đục bỏ. Gốm Chu Đậu với các niên hiệu của một thời được coi là nguỵ triều cũng không ngoại lệ. Chỉ có sự triệt phá nhằm xóa bỏ mọi dấu tích của kẻ thù mới có thể làm cho một trung tâm sản xuất lâu đời và phát triển rực rỡ như vậy bị mất đi trong lịch sử.


 


Sự kiện đặc biệt ghi dấu sự trở lại của dòng gốm nổi tiếng một thời, đó là bức thư của Tùy viên văn hóa Nhật Bản Makoto Anabuki gửi tỉnh ủy Hải Dương nhờ thẩm định nguồn gốc chiếc bình gốm cổ lưu giữ tại Viện Bảo tàng Topkapi Saray (Istambul- Thổ Nhĩ Kỳ). Bình dáng hình củ tỏi, cao 54 cm, được trang trí hoa sen và cúc dây. Trên vai bình có ghi 13 chữ Hán “Thái Hòa bát niên, Nam Sách châu, tượng nhân Bùi thị hý bút”, nghĩa là “Năm Thái Hòa thứ tám (1450), thợ gốm họ Bùi, người châu Nam Sách vẽ chơi”.



Cho đến năm 1992, khi trục vớt con tàu đắm tại vùng biển Cù lao Chàm, các nhà khoa học đã tìm ra gần 40 vạn gốm cổ vật nằm sâu dưới đáy biển được định giá rất cao. Gốm Chu Đậu đã đi một hành trình dài âm thầm hàng trăm năm để cuối cùng đã được phát hiện và hồi sinh.


 


Phương pháp chế tạo gốm Chu Đậu cổ đã đạt trình độ rất cao, chuốt dáng, tạo hình bằng bàn xoay, dùng khuôn, lắp ghép, kế thừa nét thanh thóat của gốm thời Lý và vóc dáng chắc khỏe của gốm thời Trần.  Khác với nét gốm Bát tràng, vốn dĩ cũng xuất phát từ một chi của gốm Chu Đậu, gốm Bát Tràng men trắng, hoa xanh, họa tiết có sự giao thoa của các nền văn hóa Ðông – Tây. Còn gốm Chu Ðậu là gốm đạo, gốm bác học, men trắng, hoa lam, hoa văn, họa tiết thuần Việt in đậm dấu ấn trên mình những giá trị nhân văn của Phật giáo, Nho giáo.


 


Trang trí gốm rất phong phú, từ đắp nổi, khắc chìm, vẽ công phu, phóng bút và thần bút thật phóng khóang và điêu luyện nhưng luôn được đặt trong một chuẩn mực nghiêm ngặt về thẩm mỹ. Màu vẽ dưới men chủ yếu là Oxy cở bản, phủ ngoài men tro và ngọc chảy đọng hoặc nét khắc tô nâu nền men trắng đục mờ. Người thợ vẽ xưa đã phản ánh sinh động khung cảnh thiên nhiên và cuộc sống dân giã của người Việt, hoa sen, hoa cúc, hình lá chuối, vịt trời bay trên sông, chích chòe tìm sâu trong vườn, những nét vẻ sóng nước hình thang tạo hình như vương miện vua Hùng đính những lông chim lạc việt trên những bình tỳ bà, những ấm rồng, lư hương thể hiện vẻ đẹp thuần khiết Việt Nam không lẫn với những tích cổ hay cảnh vật nước ngoài.


 


Sản phẩm tiêu biểu và đặc sắc nhất của gốm Chu Đậu cổ là chiếc bình Hoa Lam và bình Tỳ Bà còn được gọi là bình cha, bình mẹ. Bình tỳ bà mang dáng hình cây đàn tỳ bà đại diện cho tính âm, đất mẹ hiện thân cho người phụ nữ Việt Nam dịu dàng hiền thục nết na. Bình hoa lam thể hiện cho tính dương là người chồng, là cha, là trụ cột là nền tảng.


 


Theo quan điểm của người xưa, nói đến các vật phẩm bằng gốm là nói đến sự kết hợp hài hòa của năm yếu tố, kim, mộc thủy hỏa thổ. Kim loại có trong xương và men gốm tạo ra vẻ đẹp và sự huyền bí của màu sắc. Lửa là tác nhân của sự bền chắc trong xương gốm, sự sáng trong quyến rũ của áo gốm. Nước hợp với đất tạo dáng cho gốm. Ngọn lửa là cha tạo ra phẩm chất sắc thái của gốm, đất là mẹ tạo ra xuơng thịt cho gốm. Người ta nói, người là tinh hoa của trời, gốm là tinh hoa của đất. Nên nói đến gốm phải nói đến đất. Điều quan trọng đầu tiên để hình thành nên các lò gốm là nguồn đất sét làm gốm. Đất làm ra gốm Chu Đậu được khai thác ở một nơi đặc biệt tại vùng đất thiêng Chí Linh.


 


Trời đất đã phú cho vùng đất nơi đây một nguyên liệu quý giá để làm gốm. Đó là trầm tích được lắng đọng nhiều nghìn năm ở nơi giao nhau của sáu con sông, hay còn gọi là Lục đầu giang. Trầm tích của lục đầu giang là đất sét trắng, khác với các loại đất hóa thạch. Tầng đất sét quý giá này rất mỏng, thường chỉ vài mét, bỏ qua các lớp đất bề mặt, lớp đất cát đào xuống sâu mới khai thác được. Các nhà khoa học khẳng định đó là đất quý hiếm, ít tạp chất nhiều khóang chất. Đất sét này có độ dẻo cao, khó tan trong nước ,hạt mịn, màu trắng sáng. Đất nguyên thủy, sau khi khai thác xong phải được xử lý theo một quy trình nghiêm ngặt theo phương pháp truyền thống qua bốn công đoạn.


 


Đầu tiên, đất được đưa vào bể giã. Ở bể này, đất sét thô được ngâm lâu trong nước đến khi đất nát ra, gọi theo cách dân gian là đất đã chín. Đất được đánh đều cho đến khi thành một hỗn hợp lỏng. Hỗn hợp lỏng trong bể giã được tháo xuống bể thứ hai gọi là bể lắng. Tại đây đất sét bắt đầu lắng xuống, một số tạp chất nhất là các chất hữu cơ nổi lên, sỏi đá nặng lắng xuống phía dưới lại được thải bỏ để lấy phần ở giữa. Sau đó, đất được đưa sang bể thứ ba gọi là bể lọc để lấy được phần mịn nhất rồi sau đó chuyển sang bể thứ tư là bể ủ. Tại bể ủ, oxit sắt và các tạp chất khác bị khử. Công đoạn cuối cùng, thời gian ủ càng lâu càng tốt.


 


Sau gần bốn thế kỷ bị mai một, làng gốm Chu Đậu đang dần hồi sinh. Ngoài bán trong nước, gốm Chu Đậu được xuất khẩu đến nhiều thị trường khác ở châu Âu, châu Mỹ, châu Á… Đặc biệt, gốm Chu Đậu có mặt tại gần 50 bảo tàng trên thế giới, trong đó có những sản phẩm được định giá lên tới hàng triệu đô-la. Ở đâu gốm Chu Đậu cũng làm mê mẩn lòng người bởi hình dáng, lớp men và hoa văn độc đáo.


 


Với những nỗ lực không mệt mỏi nhằm hồi sinh gốm Chu Đậu của các nhà khảo cổ học, các nhà khoa học, những nghệ nhân họa sỹ, hy vọng những sản phẩm gốm Chu đậu ngày nay sẽ tìm lại một thời vàng son đã qua cho làng gốm Chu Đậu để không ai, không điều gì nơi đây bị quên lãng./.

Rate this post
Continue Reading
Click to comment

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Du Lịch

Hà Nội: Linh thiêng đền Sái

Published

on

By

Nằm trên núi Sái – một trong 7 ngọn núi thiêng thuộc dãy Thất Diệu Sơn, đền Sái (thôn Thụy Lôi, xã Thụy Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội) là nơi thờ Đức thánh Huyền Thiên Trấn Vũ – một trong bốn vị thần trấn giữ Thăng Long, người có công giúp vua An Dương Vương diệt trừ Bạch Kê Tinh để xây thành Cổ Loa.

Tương truyền, sau khi dời đô về Thăng Long, vua Lý Công Uẩn đã tới đây xin rước bài vị Đức thánh Huyền Thiên Trấn Vũ và lập đền thờ ngài tại kinh thành Thăng Long, lấy tên là đền Quán Thánh – một trong “Thăng Long tứ trấn”.

Hai bên sân phía trước đền Sái là hai ao hình tròn, được gọi là ao Tiên. Bước qua 15 bậc đá, du khách sẽ tới nghi môn gồm 5 cửa: Ở giữa là 3 cổng chính, rộng, được xây kiểu chồng diêm 2 tầng, 8 mái; hai bên là 4 trụ biểu. Hai cổng phụ hai bên nhỏ, có mái che và 2 trụ biểu nhỏ.

Qua nghi môn là tới gác chuông cao 2 tầng, được xây theo kiểu chồng diêm, 8 mái. Công trình này được phục dựng năm 1989. Trên gác treo quả chuông đúc vào thời vua Thành Thái (triều Nguyễn, trị vì từ năm 1889 đến 1907). Tiếp đó là tòa Kính thiên, chính giữa có tấm bia “Huyền Thiên Đạo Quán” niên đại Chính Hòa thứ 22, năm Tân Tỵ (1701). Bốn mặt bia khắc chữ, ca ngợi cảnh đẹp vùng núi Sái, lịch sử và công đức của Đức thánh Huyền Thiên Trấn Vũ.

Sau tòa Kính thiên là nhà tiền tế và chính điện. Chính điện có mặt bằng kiểu chữ “Công”, gồm tiền đường, thiêu hương và hậu cung. Tiền đường đã được dựng lại theo lối kiến trúc cổ. Hậu cung là công trình được bảo tồn gần như nguyên vẹn với gạch lát nền từ thời Lê, chính giữa là bức tượng Huyền Thiên Trấn Vũ làm bằng đất, sơn son thếp vàng, có chiều cao 2,25m, đường kính 0,9m. Trong đền hiện còn lưu giữ nhiều di vật, đồ thờ có từ thế kỷ XVII – XVIII. Phía sau đền là chùa Sái, tạo thành một quần thể phối thờ theo lối “tiền thần, hậu phật”.

Ngoài những nét đặc sắc về kiến trúc, đền Sái còn được biết đến với Lễ hội rước vua giả (ngày 11 tháng Giêng hằng năm) cùng những phong tục cổ truyền độc đáo được bảo tồn, lưu giữ đến ngày nay.

Có giá trị về nhiều mặt, đền Sái đã được xếp hạng Di tích lịch sử, nghệ thuật, kiến trúc cấp quốc gia năm 1986.

Thủy Hương

Rate this post
Continue Reading

Du Lịch

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đồng Nai

Published

on

By

Cập nhật:

Lượt xem: 13.997


Địa chỉ: 2 Nguyễn Văn Trị, TP. Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai


Tel: (0251) 3822 038; Fax: (0251) 3824 482


Email: svhttdl@dongnai.gov.vn


Website: svhttdl.dongnai.gov.vn


 


Trung tâm Xúc tiến Du lịch Đồng Nai


Địa chỉ: 2 đường 30/4, P. Trung Dũng, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai


Tel: (0251) 8820 844/ 3940 850


Email: ttxtdldongnai@gmail.com


Website: ttxtdldongnai.vn


Rate this post
Continue Reading

Du Lịch

Sơn La: Vân Hồ khai thác lợi thế phát triển du lịch

Published

on

By

Huyện Vân Hồ có khí hậu mát mẻ, cây cối tốt tươi tạo nên những cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, trù phú, cuốn hút du khách thập phương. Các tour du lịch đến với Vân Hồ khám phá, trải nghiệm vùng đất cao nguyên này ngày một nhiều hơn, người dân bắt đầu xây dựng các cơ sở lưu trú, kinh doanh nhà nghỉ, nhà hàng, khách sạn, nhưng đặc sắc nhất ở Vân Hồ là các nhà nghỉ cộng đồng (homestay) gần gũi với thiên nhiên, cho du khách những trải nghiệm thú vị về phong tục tập quán, nét văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc của vùng đất này.

Một góc homestay Vân Hồ Ecolodge tại bản Hua Tạt, xã Vân Hồ.

Huyện Vân Hồ có vị trí thuận lợi, đường giao thông thuận tiện để phát triển các loại hình du lịch sinh thái, cộng đồng. Ở Vân Hồ đang có các khu du lịch cộng đồng được nhiều du khách biết đến, như: Vân Hồ Ecolodge, Homestay A Chu, Khu du lịch rừng thông Hua Tạt, Khu du lịch cộng đồng các bản Nà Bai, Phụ Mẫu (xã Chiềng Yên)… Năm 2020, do ảnh hưởng của dịch Covid-19, nên lượng khách đến Vân Hồ giảm mạnh hơn 50% so với năm 2019 với khoảng 22.500 lượt khách, trong đó khách quốc tế trên 1.300 lượt, doanh thu đạt hơn 5 tỷ đồng.

Trong hành trình khám phá các điểm du lịch cộng đồng ở Vân Hồ, du khách sẽ được trải nghiệm các tour tự chọn, thưởng thức những vẻ đẹp của núi rừng hoang sơ hùng vĩ, ngắm những bản làng người Mông dưới những thung lũng mơ mận đang khoe sắc, ngắm những chàng trai, cô gái trong trang phục dân tộc sặc sỡ ném pa pao, chơi tâu tí giao duyên tìm bạn tình trong ngày tết. Đêm về, du khách được thưởng thức món thắng cố, nhâm nhi chén rượu ngô bên bếp lửa hồng trong tiết trời se lạnh, xem các tiết mục văn nghệ do chính những người dân bản địa biểu diễn đến tận đêm khuya.

Hòa mình cùng đoàn du khách đến từ Hà Nội, chúng tôi đến Vân Hồ Ecolodge, rộng chừng 1 ha, có 3 nhà sàn nghỉ cộng đồng, 8 căn bungalow sang trọng, có đủ các loại hoa nở bốn mùa. Vân Hồ Ecolodge là một khu nghỉ dưỡng yên bình tại bản Hua Tạt, xã Vân Hồ với thiết kế truyền thống, có bề ngoài giản dị nhưng vẫn toát nên sự sang trọng, đậm bản sắc văn hóa các dân tộc, gần gũi với thiên nhiên với đồi thông xanh mát và những đồi chè trải dài, có thể đón trên 100 du khách nghỉ qua đêm. Nghỉ ở đây, du khách có thể khám phá đời sống, cách làm và dệt vải thổ cẩm truyền thống của đồng bào dân tộc Mông, thưởng thức những đặc sản như thịt nướng, lợn hun khói, lợn bản, gà đen. Chị Tạ Thu Nga, đến từ Thành phố Hồ Chí Minh, cho hay: Tôi thật sự ngỡ ngàng với cách làm du lịch cộng đồng của người dân tộc Mông nơi đây, những ngôi nhà đơn sơ nhưng lại có kiến trúc thân thiện với môi trường, tạo nên không khí trong lành, thư giãn; được ăn món thắng cố, thịt treo gác bếp, bánh dày, cơm nếp gói lá. Tôi thích những điệu múa xòe hoa, kèn lá, đàn môi, tiếng khèn của những chàng trai Mông lúc trầm, lúc bổng, du dương, nghe da diết đến nao lòng. Rồi được mặc bộ trang phục thiếu nữ Mông, được học dệt vải, được lên núi ngắm mây bao phủ khi hoàng hôn buông xuống và được xem, thưởng thức tết của dân tộc Mông… Đây là một nơi trải nghiệm, nghỉ dưỡng lý tưởng.

Trải nghiệm Thác nước Tạt Nàng, tại xã Chiềng Yên, du khách sẽ được tận hưởng khí hậu mát mẻ của các cánh rừng nguyên sinh, lại có thác nước đổ xuống tạo nên một khung cảnh vô cùng thơ mộng, hữu tình. Hiện, Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam đã hỗ trợ huyện Vân Hồ đầu tư xây dựng nhà sinh hoạt cộng đồng diện tích hơn 500m², có kiến trúc rất hiện đại, để du khách đến nghỉ dưỡng, tận hưởng không gian thiên nhiên lý tưởng. Gặp chị Đoàn Thu Minh, du khách đến từ thành phố Hồ Chí Minh đang cùng những người bạn du lịch tại khu thác nước này, chị kể về hành trình 1 ngày  trải nghiệm: Chúng tôi được người dân địa phương đưa vào rừng già, ngắm các loại cây và những thảm thực vật còn nguyên sơ, có nhiều cây to mấy người ôm không hết; hai bên đường, hoa đỗ quyên đang rực rỡ màu đỏ và những cây đào rừng bắt đầu nở hoa, những cánh hoa đỏ tươi thắm quyến rũ, làm chúng tôi thi nhau chụp ảnh làm kỷ niệm. Chiều về lên đồi hái cam quýt ăn thỏa thích, rồi được ra chân thác nước nơi tắm cộng đồng, xua tan hết mệt mỏi của một ngày vào rừng khám phá. Tối đến, chúng tôi lại được quây quần bên mâm cơm, do chính người địa phương nấu với những món ăn đặc sản dân tộc. Không chỉ có vậy, khi ăn xong, chúng tôi lại được xem biểu diễn văn nghệ, do những cô gái dân tộc Thái biểu diễn, cô nào cũng trắng trẻo, xinh xắn, khỏe mạnh trong trang phục sặc sỡ. Những lời hát cất lên như gọi mời du khách, điệu múa uyển chuyển, với những đôi tay mềm mại, cùng tiếng nhạc dân tộc sôi động, cứ cuốn hút mọi người hòa theo. Rồi chúng tôi được hòa mình vào vòng xòe, nhảy theo tiếng hát, tiếng nhạc quanh ngọn lửa hồng. Đêm về yên tĩnh, thi thoảng có tiếng tắc kè kêu tìm bạn và những tiếng gà gáy điểm canh. Cái lạnh về đêm của miền Tây Bắc cùng với tình cảm của người dân nơi đây làm cho chúng tôi thêm yêu quý, tin tưởng nơi đây sẽ là điểm thu hút đông khách du lịch gần xa.  

Hầu hết du khách đến trải nghiệm các homestay ở huyện Vân Hồ đều có chung nhận xét về cách tổ chức khá chuyên nghiệp. Nhà sàn vẫn giữ được kiến trúc riêng biệt, rộng rãi, thoáng mát và sạch sẽ. Các homestay có thể đón cùng một lúc nhiều đoàn khách đông người tạo nên khung cảnh sôi động, nhộn nhịp, nhất là vào dịp cuối tuần. Đến đây, du khách không chỉ được trải nghiệm cuộc sống, sinh hoạt thường ngày của người dân bản địa, mà còn có thể tham gia nhiều hoạt động hấp dẫn tùy theo yêu cầu và sở thích. Đây là cách làm mới của đồng bào các dân tộc nơi đây, nhất là người dân tộc Mông, tất cả đều chung sức làm cộng đồng, những nhà có homestay thì có thu nhập từ du khách đến nghỉ, những nhà không làm homestay thì được hưởng lợi từ cung cấp thực phẩm nấu ăn hoặc làm các sản phẩm của dân tộc bán cho du khách, rồi biểu diễn các tiết mục văn nghệ truyền thống khi du khách yêu cầu. Tất cả các hộ làm dịch vụ đều niêm yết giá chung, nhiều người còn nghe và nói được tiếng Anh, giao tiếp được với khách du lịch nước ngoài, đem đến cho du khách cảm giác bình yên, sự thoải mái và thân thiện.

Chia tay Vân Hồ, khi đêm đã về khuya, đâu đó tại các homestay, ngọn lửa vẫn còn bập bùng sưởi ấm những vòng xòe bất tận, và những du khách đắm mình, say sưa với điệu múa khèn, ngây ngất trong tiếng sáo, đàn môi du dương như níu kéo, mời gọi du khách gần xa…

Minh Tuấn

Rate this post
Continue Reading

Trending

Bạn không thể sao chép nội dung của trang này