Connect with us

Blog

Một số tựa game bài hot để chơi hiện nay

Published

on

Đơn vị tài trợ Quảng Cáo

Game đánh bài tồn tại từ rất lâu và chưa bao giờ hết hot bởi cách chơi đa dạng và gần gũi với thực tế khiến cho bất cứ người chơi nào cũng cảm thấy hài lòng và tìm được phương thức chơi của mình trong đó. Chính vì vậy tựa game này luôn thu hút được số lượng người chơi vô cùng lớn, để tìm hiểu thêm về tựa game đầy ấn tượng này, hãy cùng đọc kỹ bài viết sau nhé!

Các kiểu đánh bài trực tuyến phổ biến nhất hiện nay

Game đánh bài trực tuyến chưa bao giờ bị đánh bại trong chỗ đứng trên các tựa game gây ấn tượng và thu hút người chơi. Tựa game này bao gồm các kiểu đánh bài khác nhau, đa dạng cho người chơi có thể lựa chọn tùy theo sở thích và cách chơi của mình.

game bài

–          Game bài tiến lên: Với hình thức chơi này, người chơi có nhiều hơn một lựa chọn khi hình thức này được chia là hai hình thức tiến lên miền nam và miền bắc. Mỗi loại sẽ có cách chơi khác nhau về độ đồng chất của mỗi quân bài. Do đó, khi tìm hiểu, người chơi có thể lựa chọn cho mình một loại phù hợp mà mình yêu thích để chơi.

–          Phỏm: với những người chơi cá cược chắc chắn không thể không biết tới loại hình chơi cá cược này, người chơi sẽ thoải mái tận hưởng tựa game của mình mà không phải suy nghĩ gì nhiều. Hình thức chơi này luôn khiến trò chơi được kết thúc nhanh chóng và không phải suy nghĩ quá nhiều.

–          Poker: một hình thức chơi bài mang tính chất du nhập, nhưng lại khá phổ biến trên các song bài trên thế giới. Thế giới, mọi người chơi dường như lại yêu thích và hay sử dụng hình thức chơi này nhiều hơn. Tuy  nhiên, với hình thức này, người chơi sẽ phải dành nhiều thời gian để học hỏi.

Game poker

Bên cạnh các hình thức chơi trên, người chơi cũng có thể đa dạng trong cách chơi của mình với chơi Sâm lốc., chơi tiến lên Trung quốc…

Cách chơi tiến lên Trung Quốc

Gần đây mọi người đang dành sự quan tâm của mình cho hình thức chơi tiến lên Trung Quốc. Hình thức mới lạ này đang khiến cho người chơi cảm thấy hài lòng và thu hút. Trên thực tế, loại game này khá giống như với cách chơi tiến lên của Việt Na, và luật chơi cũng khá đơn giản và dễ nhớ cho ai muốn chơi thành thạo sau một vài ván đầu tiên.

Trong mỗi ván bài của hình thức chơi này, người chơi sẽ được chia 13 lá cho mỗi người và ai có 3 quân bài bích trước người đó sẽ dành được phần thắng. Đây là một trong những cách chơi đơn giản và dễ dàng nhất hiện nay mà bạn có thể tham khảo và chơi ngay từ những ván đầu tiên.

Cách chơi bài online giành chiến thắng

Để giành chiến thắng trong mỗi ván bài thường không phải là điều quá khó khăn nhưng cũng không hề đơn giản nếu như bạn không nắm được những bí quyết mang tính chất quyết định.

–          Chọn lọc cách chơi bài phù hợp với mình

Một trong những bí quyết “thần sầu” giúp bạn có khả năng giành chiến thắng cao chính là việc bạn cần phải chọn cho mình một hình thức chơi phù hợp nhất với bản thân mình. Bạn phải hiểu được trò chơi đấy và nắm vững được phương pháp chơi của một hình thức nhất định. Bạn đừng quá dành thời gian chơi quá nhiều hình thức bởi nó chỉ khiến bạn mất tiền mà thôi

–          Vận dụng chiến thuật chơi phù hợp

Một trong những điều tiếp theo mà bạn cần phải nhớ đó chính là chiến thuật chơi của bạn. Không có điều gì mang lại chiến thắng một cách dễ dàng nếu như bạn không dành thời gian để nghiên cứu hay lựa chọn cho mình một hình thức chiến thuật phù hợp nhất với mình. 

Đơn vị tài trợ Quảng Cáo

Rate this post
Continue Reading
Click to comment

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Blog

Đôi điều về tranh tuấn mã

Published

on

By

VNTN – Trong phong thủy, khi một hình tượng phổ biến mang nội dung tích cực sẽ tạo một “trường khí tích cực”, ngược lại một hình ảnh tiêu cực sẽ làm phát sinh “trường khí tiêu cực”. Theo đó, sự vận dụng hình tượng ngựa cũng không ngoài ý nghĩa này.


Tranh quý xưa và nay

Với những ưu điểm như đẹp, khôn, khỏe và dẻo dai, ngựa đã được nhiều họa gia Đông Tây kim cổ đưa lên tranh với tất cả sự hào hứng, riêng trong hội họa Trung Quốc đã có những danh gia kiệt xuất vẽ ngựa như Tào Bá và Hàn Cán đời Đường, Lý Long Miên đời Tống, Triệu Mệnh Phủ đời Nguyên. Họ đã lột tả được cả tính tướng, thần và những nét đẹp của loài ngựa.

Tưởng như tranh ngựa không còn thêm được điều gì khác hơn nữa, nhưng một tài năng trẻ sinh vào cuối đời Thanh là Từ Bi Hồng bỗng nổi lên, gần như vượt trội so với các bậc tiền bối nhờ đã đưa cái mới vào tranh ngựa, đó là thế và dáng rất hùng dũng, sống động, điều mà trước kia chưa được xét tới. Ngựa của Từ Bi Hồng dồn vó phi như bay làm cho không gian và mặt đất rung chuyển, dường như không có gì cản phá được. Cái đẹp – hùng của ngựa chủ yếu ở sự mềm mại, của đuôi và của bờm ngựa chứ không phải ở bộ vó ngựa cứng chắc như ta tưởng. Quả thật đến nay chưa có thêm họa gia nào vượt được Từ Bi Hồng về tài năng vẽ ngựa.

Tranh về ngựa đã xuất hiện trong nhiều nền văn hóa của thế giới từ hàng ngàn năm về trước, và cho đến nay chúng vẫn rất được ưa chuộng. Đặc biệt ở các nước châu Á nói chung, ở Việt Nam nói riêng, mỗi dịp Tết đến xuân về người ta thường tặng nhau bức tranh ngựa – với ý nghĩa để cầu may mắn, tài vận, thành công trong sự nghiệp và cuộc sống. Ngoài ra, những sự kiện khác trong năm như khai trương cửa hàng, cửa hiệu, khánh thành công ty, tân gia, chúc mừng thăng quan tiến chức v.v… thì tranh ngựa cũng là món quà luôn được ưu tiên lựa chọn nhiều nhất.

Tranh quần mã của Từ Bi Hồng

Nắm bắt được tâm lý người tiêu dùng, đáp ứng nhu cầu của xã hội, các thương gia đã nhập về vô số những tranh và phù điêu ngựa. Với các chất liệu khác nhau từ gỗ, sơn mài, kim loại, đất nung, sơn dầu, đặc biệt là tranh thêu chữ thập đã được bày bán la liệt trên thị trường. Những tranh này đa phần được in hoặc là do các thợ vẽ sao chép, biến tấu, thêm bớt cho lạ mắt, nên thường không có tác giả đứng tên. Ngắm kỹ các tranh ngựa này thì đa số chỉ thấy xác ngựa chứ không thấy có dáng – thế. Một số tranh thêu hay tranh ghép bằng “đá quý” còn tệ hơn: với hình ảnh ngựa què quặt, sai giải phẫu, đầu nhấp nhô không biết gắn vào thân nào. Có tranh thì vẽ cả bầy ngựa chạy nháo nhác như kẻ bại trận, không giống tranh “mã đáo thành công” một chút nào.

Trong mười hai con giáp thì ngựa là biểu tượng cho sự trung thành và tận tụy, đồng thời là biểu tượng cho tài lộc, thành công. Hình ảnh ngựa tung vó hý vang biểu tượng cho sự kiêu hãnh và tự do thanh khiết… Tuy nhiên, mỗi bức tranh ngựa lại mang một ý nghĩa, thông điệp về điều tốt lành khác nhau. Dựa trên số lượng ngựa, hình dáng các con ngựa hay hướng đi như thế nào, người xưa đã gửi vào đó một ý niệm tốt lành. Ngày nay việc sử dụng tranh ngựa vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau, và không phải ai cũng tỏ tường.

Các loại tranh mang đặc trưng, ý nghĩa riêng 

Mỗi tranh ngựa đều có ý nghĩa riêng, dĩ nhiên không phải cứ tranh Mã đều gọi là “Mã đáo thành công”. Mã đáo có nghĩa là may mắn đi về, vậy tranh mã đáo phải vẽ đàn ngựa hướng quay trở về, tức là nhìn vào tranh hướng đi của đàn ngựa từ phải sang trái. Trong ngôi nhà, tranh “Mã đáo thành công” treo ở cung phía Nam (Cung Danh tiếng) hay cung phía Bắc (cung Quan Lộc) đều được. Tốt nhất “Mã đáo thành công” nên treo sao cho hình tượng ngựa quay vào nhà. Vì vậy, trong trường hợp này nên treo tranh ở cung phía Bắc sẽ tốt hơn cả hai phương diện là quan lộc và thành công trong phong thủy.

Những tranh “Mã đáo thành công” thường có tám con ngựa, vì người xưa quan niệm “bát” (con số 8) được dùng khá nhiều trong dân gian và phong thủy như bát tiên (tám vị tiên trong truyền thuyết), bát quái (theo kinh dịch là tám trạng thái khác nhau, tổ hợp chập ba của âm/dương trong quá trình hình thành vũ trụ và vạn vật), bát chính đạo (theo phật học là con đường tám nhánh để giải thoát khỏi khổ; là chân lư cuối cùng, cao cả, gốc cơ bản của phật giáo)… như đã nói ở trên, số 8 “Bát” (chữ Hán là 八) đọc theo Hán ngữ thì gần âm với chữ Phát, có nghĩa là phát đạt, giàu có. Tranh này thường chỉ dành tặng những người mới bắt đầu làm ăn buôn bán, mới khai trương hoặc những người đang trên đường lập công danh. Theo dị đoan, những người này một khi đã thành công thì không được đem tặng, làm mất hay hư hủy bức tranh này. Người có quyền chức hoặc đại gia thì không nên nhận tranh “Mã đáo thành công” vì nó sẽ có nghĩa ngược lại (mã truy phong) đem phong ba tới sẽ gây trắc trở. Những người này thường dùng những vật dụng trong phong thủy để bảo vệ và làm bền vững những gì họ đang có.

Một tranh ngựa được vẽ chắp vá

Theo truyền thuyết, “Mã đáo thành công” có nguồn gốc từ Trung Hoa. Thời nhà Chu có vị vua thứ năm tên là Chu Mục Vương (1001 – 746 TCN) nổi tiếng sử sách vì ông sở hữu tám con ngựa đặc biệt và được dân gian gọi là “Bát tuấn”. Theo một số tài liệu ghi chép, Chu Mục Vương đặt tên cho tám con ngựa lần lượt là: Xích Ký, Đạo Ly, Bạch Mã, Du Luân, Sơn Tử, Cừ Hoàng, Hoa Lưu, Duyên Nhỉ. Người điều khiển xe ngựa có tên là Tạo Phụ. Tạo Phụ thường chở Chu Mục Vương đi vi hành khắp nơi trên chiếc xe ngựa đặc biệt do tám con ngựa này kéo. Tương truyền dưới thời Chu Mục Vương, dân tình có cuộc sống khá thịnh vượng. Vì thế các họa sĩ thời đó thường họa lại nhiều bức tranh với chủ đề tám con ngựa và gọi là “Bát Tuấn Đồ”.

Trong các bức tranh phong thủy về ngựa thường ta thấy có một ngựa trong đàn quay đầu trở lại (ngựa thứ tư hoặc thứ năm) mang ý nghĩa khuyến khích những con ngựa còn lại chạy nhanh hơn. Còn riêng tranh “Mã đáo thành công” thì không có con ngựa nào quay đầu, vì theo dân gian quan niệm như thế là một phần tiền tài bị mất.

Trường hợp khác, tranh vẽ tám con ngựa chạy trên bãi biển được gọi là “Bát mã quần thủy”. Trong ngũ hành, ngựa thuộc hành hỏa, nước là hành thủy, tương khắc với nhau, hình ảnh ngựa phi như bay trên nước tượng trưng cho sự ý chí, cầu mong mạnh mẽ hơn, gắng vượt qua mọi khó khăn gian khổ để tiến đến vinh quang.

Còn đối với tranh “Ngựa tung vó trên thảo nguyên” – tám con ngựa đang phi trên thảm cỏ bao la có ý nghĩa may mắn, tài lộc. Theo ngũ hành, ngựa hành hỏa, đồng cỏ tượng trưng cho cả hành thổ và hành mộc. Bức tranh là vòng kín thể hiện quy luật tương sinh giữa: Mộc – Hỏa – Thổ. Vì thế treo bức tranh này cũng cầu mong may mắn tài lộc, may mắn sẽ đến với mình.

Hiện nay có rất nhiều tranh ngựa được biến thể có số con ngựa khác nhau như “Độc mã”, “Song mã”, “Tam mã”… Người ta tránh dùng tứ mã và ngũ mã vì chữ “Tứ” gần chữ “Tử”, còn chữ “Ngũ mã” thì gợi nhớ đến “Ngũ mã phanh thây”, quan niệm người xưa cho là treo tranh này trong nhà sẽ rủi ro không tốt.

Cũng có người cho rằng không nên dùng tranh “Độc mã” (một con ngựa) vì nó gần với hình ảnh của  “Đơn thương độc mã”. Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng chỉ một con duy nhất trở về chứng tỏ con ngựa đó là may mắn nhất, mạnh mẽ và thành công nhất vượt lên tất cả mọi khó khăn…, nên những người có tính khí mạnh mẽ thì vẫn thích chơi tranh độc mã. Đối với tranh “Mã đáo song hành” – tranh vẽ hai con ngựa đạp nước, không mang nhiều ý nghĩa về tài lộc, công danh. Song những bức tranh ngựa này được xem là tranh bổ trợ cho phong thủy nhà ở, văn phòng, cửa hàng rất hiệu quả vì theo phong thủy tranh ngựa có tác dụng hóa giải sát khí của sao Nhị Hắc (sao xấu thường đem lại vận sa sút và bệnh tật).

Với tranh “Tam mã”- tranh vẽ ba con ngựa đang chạy, tượng trưng cho sự thành công, thuận lợi trong mọi công việc. Tranh ngựa phong thủy tam mã mang nguyên khí của Thổ. Nó không những đem lại tài lộc, công danh mà còn có tác dụng phát huy Thổ khí. Bức tranh có hình ba con ngựa nên treo ở gần bàn làm việc và chỗ tài vị trong nhà. Mặt nên hướng ra cổng lớn hoặc cửa sổ sẽ đại cát.

Còn tranh “Lục mã” – tranh vẽ sáu ngựa đem nhiều điều tốt lành. Vì số 6 theo âm Hán Việt đọc là “Lục” – gần giống “Lộc”, có nghĩa là tiền tài. Sáu con ngựa cùng phi, như mang ý nghĩa ngựa mang của cải sinh tài vào nhà.

Mặc dù tranh ngựa mang lại điềm lành cho gia chủ về thăng tiến sự nghiệp, nhưng khi dùng cần lưu ý về hướng treo tranh. Nên bày tranh ngựa ở phía Nam hay phía Tây Bắc. Cần tránh treo tranh ngựa có hình dáng ngựa quay đầu hướng trở ra cửa hay tranh để ở bếp và nhà tắm. Tranh ngựa nên để ở phòng khách, phòng làm việc hoặc phòng ngủ sẽ mang đến vận may về danh vọng, tình yêu hôn nhân hạnh phúc lâu bền.

Quan niệm dân gian, ngựa mang đến điềm lành cho sự thịnh vượng nhưng lại khắc với những người tuổi Tý, vì ngựa thuộc hành hỏa. Do vậy tranh ngựa sẽ thích hợp nhất với gia chủ (quý ông) mang mệnh thổ.

Hy vọng một vài điều suy ngẫm về Tranh tuấn mã sẽ phần nào hữu ích với độc giả về cách sử dụng và treo tranh ngựa trong nhà cho đại tài – đại lộc.

Gia Bảy

Rate this post
Continue Reading

Blog

Những vần thơ đẹp về mười cô gái Ngã ba Đồng Lộc

Published

on

By

VNTN – Ngã ba Đồng Lộc (Can Lộc – Hà Tĩnh) đã mãi mãi đi vào lịch sử dân tộc ta với những chiến tích hào hùng trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Địa danh này gắn liền với tên tuổi, chiến công và sự hy sinh anh dũng của mười cô gái thanh niên xung phong tuổi đời còn rất trẻ. Ngày 24 tháng 7 năm 1968, trong khi các cô đang làm nhiệm vụ san lấp hố bom thông đường cho xe ra tiền tuyến thì máy bay Mĩ ào đến ném bom, giết hại cả tổ thanh niên xung phong này. Từ đó, tinh thần chiến đấu và sự hy sinh anh dũng của mười cô gái trên Ngã ba Đồng Lộc đã trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm, kiên cường trong chiến đấu của những chiến sĩ thanh niên xung phong nói riêng và quân dân ta nói chung.

Đã có hàng trăm bài thơ ra đời nhằm ca ngợi, tỏ lòng khâm phục và tiếc thương mười cô gái ở Ngã ba Đồng Lộc. Các nhà thơ đã coi địa danh này là “ngã ba trái tim”, là điểm gặp gỡ của cảm xúc. Nhà thơ Huy Cận đã phát hiện và làm nổi bật giá trị, ý nghĩa của Ngã ba Đồng Lộc bằng một giọng thơ vừa trữ tình vừa triết lý sâu xa:

Các ngã ba khác trên đời làm bằng nước, bằng sông, bằng thủy triều lên xuống

Hay bằng đá bằng đất

Bằng xi măng cốt sắt

Bằng vôi trắng gạch xây

Bằng đèn xanh, đèn đỏ đủ màu

Hay bằng những sự chênh vênh vấp ngã

Nhưng ngã ba Đồng Lộc làm bằng 

                                        xương máu…

                              (Ngã ba Đồng Lộc)

Để làm nên Ngã ba Đồng Lộc lừng lẫy chiến công, trở thành niềm tự hào của quân dân cả nước, khiến quân thù mất ăn mất ngủ, ngày đêm tìm cách đánh phá, thì những chiến sĩ nơi đây phải đánh đổi bằng xương máu của mình. Cũng bởi vì thế mà Ngã ba Đồng Lộc đã mang một vẻ đẹp riêng biệt, không giống bất cứ một ngã ba nào khác. Mảnh đất và con người nơi đây phải hứng chịu hàng nghìn tấn bom đạn của giặc và những người lính đã không sợ gian khổ, hy sinh để mạch máu giao thông không bị tắc nghẽn. Bàn tay, đôi chân của các cô thanh niên xung phong còn nhanh hơn kíp nổ. Có cô thì chuyên lấp hố bom, có cô thì chuyên phát hiện bom nổ chậm và tự nguyện làm “cọc tiêu sống” đứng cắm cờ canh bom nổ chậm để dẫn đường cho xe ra tiền tuyến. Trong trường ca Vạn lý Trường Sơn, nhà thơ Nguyễn Hữu Quý đã phác họa dáng vẻ hiên ngang của những người con gái đứng báo bom nổ chậm, mang vẻ đẹp vừa thánh thiện vừa trần thế:

Em cấy vào đêm sự sống 

                      mong manh mùi con gái

Với những hàng tiêu bằng thân thể 

                                          trắng ngần

Những vầng ngực rời nơi trú ẩn

Kéo trăng về bên hút bom câm…

Các cô tự nguyện kéo về phía mình những bầy “con ma”, “thần sấm” và dũng cảm đón nhận loạt bom để cứu con đường khỏi bị thương, đảm bảo cho đoàn xe chở vũ khí cùng những đoàn quân ra tiền tuyến. Sự hy sinh của mười cô gái đã trở thành nguồn động viên cho những người lính khi ra trận, hồn các cô đã hóa thành những vì sao dẫn đường đêm đêm, thành ánh trăng làm dịu đi cái khắc nghiệt của cuộc chiến tranh:

Em nằm dưới đất sâu

Như khoảng trời đã nằm yên trong đất

Đêm đêm tâm hồn em tỏa sáng

Những vì sao ngời chói lung linh…

                       (Khoảng trời , hố bom

                                      Lâm Thị Mỹ Dạ)

Cũng như bao thanh niên trên khắp đất nước lúc bấy giờ, mười cô gái ở Ngã ba Đồng Lộc đã tạm gác lại chuyện tình duyên, chuyện chồng con để hiến dâng tuổi xuân cho đất nước. Vì thế, cho đến lúc hy sinh, các cô vẫn chưa một lần được yêu, chưa một lần hò hẹn. Nhiều nhà thơ đã dành những vần thơ xúc động nhất thể hiện sự đồng cảm sâu sắc về những khát khao hạnh phúc và sự trinh trắng của tâm hồn mười cô gái:

Mười làn môi chưa một lần hò hẹn

Mãi trẻ trung cô gái ngàn năm

Mười mái tóc chưa trai làng nhẹ vuốt

Mãi xanh cùng cây lá Trường Sơn…

                    (Viếng em – Bùi Văn Bồng)

Ở cái nơi mà sự sống và cái chết cách nhau chỉ tích tắc ấy, trong sâu thẳm tâm hồn mình, các cô càng khát khao được hò hẹn, được vuốt tóc, khát khao được nói tiếng yêu thương… nhưng loạt bom nghiệt ngã đã cướp đi niềm khát khao chính đáng ấy; để rồi mỗi người lính đi qua đều dâng dâng niềm thương cảm:

Các em đi khi mười tám tuổi xuân

Và để lại những trái tim trong trắng

 (…)

Tiếng các em thét gọi nhau 

                        trong chiến hào khói lửa

Còn cháy lòng bao chiến sĩ 

                                    xung phong…

    (Gặp lại các em – Nguyễn Đình Chiến)

 Rồi chiến tranh qua đi, thời gian dần dần phủ màu xanh cây rừng trên những vạt đồi nhưng vẫn còn đó những hố bom ngổn ngang, khô khét một thuở nào, vẫn còn đó nỗi đau của mất mát, hy sinh không thể nào khỏa lấp được. Ngày hôm qua, hôm nay và mãi mãi sau này, hàng triệu lượt người từ khắp đất nước vẫn tìm về Ngã ba Đồng Lộc để tỏ lòng ngưỡng vọng, tri ân, để cảm thấy rằng hình như mười ngôi mộ này được xây cất bằng “tiếng chim ca bên trời”, hình như mười cô gái vẫn lẩn khuất đâu đây! Tâm hồn và máu xương của các cô đã hòa vào trời mây, cây cỏ, núi sông này:

Cầm cỏ thì thấy mồ hôi

Cầm đất thì thấy dấu môi vẫn hồng…

(Mười cô gái ở Ngã ba Đồng Lộc – Đồng Đức Bốn)

10 cô gái Ngã ba Đồng Lộc. Ảnh TL

Hơn hai mươi năm sau kể từ ngày mười cô gái đi vão cõi vĩnh hằng, nhà thơ Mai Văn Phấn đã viết bài thơ Mười nén nhang ở Ngã ba Đồng Lộc, thành kính dâng lên. Đây là tác phẩm đoạt giải Nhì (không có giải Nhất) trong cuộc thi thơ của Báo Văn nghệ năm 1995. Bài thơ chỉ vẻn vẹn mười dòng lục bát tương ứng với mười nén nhang dành cho mười cô gái:

Tháng ngày gương lược về đâu

Chân trời để xõa tóc một màu cỏ non

                            *

Các cô nằm lại trên cồn

Những chùm bồ kết khô giòn trong cây

                            *

Khăn thêu những dấu tay gầy

Thành mây Đồng Lộc bay bay trắng trời

                            *

Người ơi, tôi lại gặp người

Hơi bom vẫn thổi rụng rời cát khô

                            *

Nhang này quặn nỗi đau xưa

Tôi này tôi của cơn mưa về nguồn…

Bài thơ ngắn gọn, dồn nén cảm xúc đau buồn, nhớ thương trước mười ngôi mộ. Ngôn ngữ thơ chắt lọc nhưng giàu tính gợi hình, gợi cảm. Các hình ảnh cụ thể: gương lược, bồ kết, khăn thêu, cỏ xanh… gợi lên sức sống dẻo dai, tràn đầy của tuổi trẻ. Nhà thơ nguyện làm cơn mưa về nguồn mong làm dịu bớt nỗi đau cháy lòng của những hy sinh, mất mát xưa kia và mong làm mát lòng mười cô gái trinh nguyên nơi chín suối…

Vào những ngày này, toàn dân ta đang kỷ niệm 68 năm ngày Thương binh, Liệt sĩ 27/7, tưởng nhớ những người con ưu tú của quê hương, đất nước đã anh dũng hy sinh, trong đó có mười cô gái ở Ngã ba Đồng Lộc. Khó mà nói hết được sự hy sinh cao cả của những người lính, cũng như không thể diễn tả hết lòng biết ơn sâu nặng của chúng ta hôm nay về những người đã dâng hiến máu xương cho Tổ quốc. Chúng ta hãy thành kính dâng nén tâm nhang trước Mười ngôi mộ ở Ngã ba Đồng Lộc cùng nhà thơ Trần Mạnh Hùng:

Anh về Đồng Lộc em ơi

Nén nhang tưởng niệm thay lời hát ru…

Trần Văn Lợi

Rate this post
Continue Reading

Blog

Rừng nứa | Tạp chí Văn Nghệ Thái Nguyên điện tử

Published

on

By

VNTN – Tôi sinh ra và lớn lên ở một khu rừng nứa bát ngát. Loáng thoáng vài ba cây trám, vài ba cây lim, một đôi cây loại khác, xen vào là vầu, luồng, dùng nhưng nhiều nhất vẫn là nứa. Không to khỏe như cây khác nhưng nứa có thế mạnh là sinh con đẻ cái thì không bì kịp. Những cây nứa ngộ to như cổ chân, cổ tay óng ánh, nuột nà thẳng tắp vươn lên, cây nọ tựa vào cây kia, cây già cạnh cây non, cây cao, cây thấp, cây đủ lá, cây bánh tẻ nhú mầm như các cô gái tuổi dậy thì duyên dáng. Cây già, thân vàng óng, cây đủ lá xanh ngắt, cây non xanh mỡ màng, tầng tầng, lớp lớp nứa ngộ bề thế. Nứa tép thì khiêm tốn hơn. Không thể chen lấn được với nứa ngộ, nứa tép tìm những khoảng trống mà quây quần bầu đàn thê tử. Núp bóng ngay sau khu nhà sàn là hàng chục bụi nứa tép tròn như cái nong cái nia. Hưởng mầu mỡ trên nền đất buộc trâu, thả gà, thả lợn nên cây nọ cây kia xoắn xuýt vào nhau như các bàn tay xiết chặt. Những ngọn lá vươn lên xanh thẫm, cong cong, rung rinh rất điệu đà. Từng đàn chim chào mào, sáo sậu bay lên lượn xuống đùa vui ríu rít kiếm mồi hoặc rút những cọng rơm khô trong đống rơm vàng xuộm rồi chao mình liệng mất biến trong rừng cây.

Một số nứa tép kéo nhau chạy ra các bìa rừng. Bụi nọ sát vào bụi kia chỉ chịu dời nhau ra bởi các con đường, dòng suối và đá cứng. Có đoạn bìa rừng nứa tép như thành như lũy trơ trơ dưới nắng gió vô tình. Nứa tép còn ẩn mình hai bên dòng suối chảy sâu trong rừng. Nứa tép muốn bám vào nơi quanh năm nước ngọt chảy làm nguồn cho sự sống. Rặng nứa tép chen lấn nhau hai bên bờ, có chỗ gốc nứa trèo lên cả các phiến đá. Ngọn nứa tép vươn cao cong xuống đan vào nhau như che nắng cho dòng suối róc rách ngày đêm.

Cây nứa sống cùng đời người. Bà tôi bảo: Lúc đẻ ra, bà đã cắt rốn con bằng cật nứa. Ai đã từng sống với nứa thì hiểu rõ cật nứa sắc ngọt như thế nào. Chặt nứa về, đập ra làm phên rào vườn hoặc ghép lại thành tấm lợp mái chuồng trâu chuồng gà, buộc thành bức làm vách nhà kho để củi. Bố làm một mình không cho tôi đụng vào. Bố bảo nứa sắc lắm, sờ vào đứt tay đấy. Sao bố đập nứa thoăn thoắt, lia bàn tay vào bụng cây nứa, phanh nó ra, lấy bàn chân đè lên rồi ép xuống, lấy cây nứa đã đập giập khác đan vào mà không thấy bố đứt tay đứt chân. Bố thấy tôi chưa tin, liền cầm một mảnh nứa khô, một tay cầm đoạn nứa tước nhỏ, một tay cầm quả chuối xanh. Bố khẽ đưa mảnh nứa cứa vào vỏ quả chuối, cứa nhẹ thế mà nhát nào cũng đứt, vết đứt nhỏ không rõ mà nhựa trắng ứa ra. Bố bảo: da trẻ con non và mềm hơn vỏ quả chuối nên không được nghịch nứa. Bố giơ cật nứa lên bảo: cây nứa có lớp vỏ bọc ngoài rất cứng tựa như rất nhiều hạt cát già xếp vào nhau nên sắc như mảnh chai mảnh lọ vỡ. Đây cũng là nét riêng của nứa mà loài khác không có.

Nứa sống với người làm bầu làm bạn thủy chung. Từ hàng rào nứa tép vườn rau, cắm cho cây đỗ cây bầu cây mướp leo lên. Nứa đan phên che nắng che mưa che gió rét cho người cho trâu, bò, lợn, gà… Nứa tép làm việc nhỏ, nứa ngộ dùng vào việc lớn hơn. Những bè gỗ, tre, vầu cõng trên lưng những bó nứa xuôi dòng sông về đồng bằng theo tiếng gọi của đồng quê. Đã có một thời khá dài những tấm cót nứa bó tròn được sử dụng biết bao nhiêu công việc phục vụ đời sống nông thôn cũng như thành phố. Hàng ngày, bếp lửa cháy bập bùng, những cây nứa tép khô cháy nổ lép bép bên cạnh ngọn lửa gỗ âm thầm tạo nên âm thanh thật vui thật ấm áp. Lớn lên đi học thời kháng chiến chúng tôi chặt cây vầu, cắt một đoạn gỗ làm bánh xe lồng vào đầu to thành một cái xe một bánh. Nứa tép khô, đạp giập, bó lại thành bó dài khoảng hơn cánh tay, buộc chống vào cây vầu. Trước khi đi học, gắp một hòn than gỗ nhét vào đầu bó nứa. Tập trung ở một điểm, túi sách buộc chặt bên sườn hô “chạy”. Tất cả chúng tôi bắt đầu chạy vào đường mòn đến lớp học. Chạy đến đâu, ngọn đuốc sáng đến đó, chiếu rõ con đường trong rừng. Nghe có tiếng máy bay địch, có bạn hô “máy bay” tất cả dừng lại, bó đuốc lập tức tắt ngay. Đầu các bó đuốc chỉ còn lập lòe. Trong bóng đêm chúng tôi đều tủm tỉm cười vì che được mắt bọn “bà già” đáng ghét.

Nứa thật anh dũng. Trong kháng chiến chống Pháp căn hầm chữ chi đào dưỡi bụi nứa thật là mát mẻ, an toàn. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, những căn hầm chữ A, được xếp trên nóc những bó nứa tép buộc chặt dựng đứng vào nhau. Hàng trăm ngọn nứa phạt sắc nhọn chổng lên trời thách thức. Một thời chưa có cốp pha tôn sắt, những cây nứa tép ghép sát vào nhau chặt xít, trên lót cót nứa đưa lên tầng làm cốp pha đỡ lấy hàng tấn sắt thép bê tông đổ mái…

Nhưng chặt nứa không phải dễ dàng. Chặt nứa phải dùng dao thật sắc. Quê tôi hay dùng dao quắm, loại dao đầu lưỡi có một đoạn cong lại. Khi chặt bàn chân phải cách xa gốc ít nhất một tầm dao. Sau nhát chém đứt, cây nứa bao giờ cũng lao thẳng cắm phập xuống đất. Nếu không để ý cây nứa sắc sẽ cắm ngập bàn chân vì nó dồn trọng lượng cả cây cộng với sức nén của gió và sức ép của cây khác trở thành tốc độ lao xuống nhanh vô cùng. Gốc càng cao chặt càng phải nhanh tay nhanh mắt mới bắt được cây nứa gọn gàng.

Lần đầu tiên đi theo bố ra suối chặt nứa tép tôi nhớ tới tận bây giờ. Vừa giơ tay vít ngọn một cây nứa xuống lối vào bụi nứa tép định chặt, tôi phát hiện ra không biết bao nhiêu là vắt. Vắt xanh, vàng, trắng đủ loại. Vắt tung hoành ngang dọc, những con vắt nhỏ đậu trên lá nứa cứng, nó mềm mại cong gập mình lại rồi như cái cánh cung, nó bật lên dính ngay vào bất kể chỗ nào trên mặt, mũi, quần áo. Chưa kịp phẩy con này xuống, con khác đã bay lên. Bố tôi cười bảo: “Cứ làm đi, càng đứng yên vắt càng tấn công. “Chặt xong một bó nứa thể nào cũng bị vài con vắt cắn no mòng”.

Ôi rừng nứa, dù đã chuyển nhà về thành phố vài chục năm, nhưng nhớ về rừng nứa ngày xưa, lòng tôi vẫn không khỏi bồi hồi.

Nguyễn Đình Tân

Rate this post
Continue Reading

Blog

Về thể kí | Tạp chí Văn Nghệ Thái Nguyên điện tử

Published

on

By

VNTN – Thể kí tưởng là đơn giản nhưng lại là một thể loại tốn nhiều giấy bút tranh luận mà đến nay vẫn không thể ngã ngũ hoàn toàn. Dù khó khăn, truyện ngắn hay tiểu thuyết vẫn có thể đưa ra khá nhiều định nghĩa, khuôn khổ (tương đối) về thể loại nhưng thể kí thì không ít sự dè dặt của các nhà văn, các nhà lí luận. Nhà văn Tô Hoài từng viết: “Kí, cũng như truyện ngắn, truyện dài hoặc thơ, hình thù nó đấy, nhưng vóc dáng nó luôn luôn đổi mới, đòi hỏi sáng tạo và thích ứng. Cho nên càng chẳng nên trói nó vào một cái khuôn”. Nhà văn chuyên viết kí Đgiocđgiê cũng cho rằng: “Sự lí giải mĩ học về khái niệm kí là chưa có hoặc không đầy đủ, hoặc không đúng”.
Ngay như việc có phải kí được phân biệt thành hai loại: kí báo chí và kí văn học hay không, cũng còn nhiều ý kiến chưa thống nhất. Nếu chia thành hai loại thì loại nào có trước và sự xâm nhập của nó ra sao? Có người tuyên bố thể kí là của báo chí, kí văn học chỉ là sự vay mượn thể loại. Nhưng theo nhà lí luận Phương Lựu thì không nên xem các tác phẩm kí là kết quả sự xâm nhập của báo chí vào văn học. Ông lí giải Sử kí của Tư Mã Thiên ở Trung Quốc cách đây đã mấy ngàn năm, tức là trước khi có sự xuất hiện của báo chí một khoảng thời gian rất dài. Để phân biệt ranh giới của hai loại tác phẩm này, nhà văn kiêm nhà phê bình văn học Ilia Côchencô cũng có một phát biểu rất hay, có thể lấy ý kiến này để tham khảo khi thực hành sáng tác: “Kí là thể loại nằm trong cuộc kéo co giữa văn học và báo chí”.
Trong sáng tác, có một số người quan niệm nếu kí báo chí mà viết mượt mà, bay bổng thì trở thành kí văn học. Ngược lại, kí văn học mà viết khô khan thì chỉ là kí báo chí. Có nghĩa, coi kí báo chí là loại hai. Chắc vì vậy mà đã có những tác giả sau khi in những bài kí trên báo đã bổ sung vào bài của mình những từ ngữ hoa hòe hoa sói, những hình ảnh mây bay bướm lượn rồi cho rằng nó đã trở thành những bài kí văn học. Đó là những quan niệm không chính xác. Kí văn học và kí báo chí không chỉ phân biệt bằng những hình thức ngôn ngữ như vậy. Cho dù mọi sự đều rất tương đối, nhưng chúng có những tính chất và chức năng riêng. Về điều này, ý kiến của GS- TS Phương Lựu là một ý kiến đáng chú ý: “Kí văn học và kí báo chí giống nhau ở chỗ đều tôn trọng tính xác thực. Nhưng ở kí báo chí phải được bảo đảm ở mức tuyệt đối, và tính thời sự cũng mang tính chất thật cấp bách, có khi hàng ngày hàng giờ. Kí văn học không đòi hỏi như vậy, ngược lại nó đề ra yêu cầu cao hơn về chất suy nghĩ và tình cảm của chủ thể”. Như vậy, ta có thể hiểu rằng, ngoài những giá trị về thông tin, thời sự mà cả hai loại kí đều phải đề cập, thì kí văn học cần phải có những giá trị thẩm mĩ. Nếu thiếu điều này, bài viết không thể trở thành bài kí văn học thực sự. Nhưng cũng cần bàn thêm, có những tác phẩm mà khi viết, tác giả chỉ hướng về thông tin sự thật (không có ý định nhằm vào giá trị thẩm mĩ) nhưng đó lại là những tác phẩm đậm đà tính nghệ thuật. Trong Vân đài loại ngữ, Lê Quí Đôn đã nhận xét về Sử kí của Tư Mã Thiên như sau: “Chỉ thấy việc thì ghi, không hề để tâm vào làm văn, cho nên văn hay”. Trong văn chương, báo chí hiện đại cũng từng có những tác phẩm như vậy. Cái hay, cái giá trị thẩm mĩ nằm ngay trong các sự kiện có thật. Vì thực ra, ở một mức độ nào đó, bản thân sự thực đã mang ý nghĩa thẩm mĩ.
Về sự phân loại của kí cũng có nhiều tranh luận. Nhưng có lẽ ít nhiều đã có sự thống nhất hoặc đồng cảm khi các nhà lí luận chia kí thành hai loại:
1- Kí trữ tình gồm: tùy bút, nhật kí….
2- Kí tự sự gồm: phóng sự, kí sự, hồi kí, truyện kí, bút kí (có người xếp bút kí vào loại trung gian giữa tự sự và trữ tình).
Ngoài ra, các nhà lí luận còn đề cập đến loại kí chính luận. Cũng có nhiều người xếp các loại tản văn, tạp văn, tạp bút… sang thể kí. Tuy nhiên, cũng không nên băn khoăn quá nhiều về thể loại. Mọi sự phân chia chỉ là tương đối. Các yếu tố tự sự, trữ tình, chính luận không bao giờ là sự độc chiếm của bất cứ một thể loại nào, nó luôn có sự hòa trộn, kết hợp, lan tỏa, đan xen lẫn nhau. Dù vậy, sự phân biệt thể loại vẫn là sự cần thiết, nếu không, sẽ sinh ra những chuyện hiểu lầm, gây khó khăn trong nhận thức và sáng tác. Đã có một tòa soạn báo khi thông báo về một cuộc thi viết, trong thể lệ ghi: Thể loại cuộc thi gồm: bút kí, kí sự, kí, ghi chép, phóng sự…Vậy là thiếu chuẩn xác.
Trong khi viết thể kí, điều thường làm một số tác giả băn khoăn nhất có lẽ là vấn đề kí có được hư cấu hay không? Vấn đề này cũng đã nhiều tranh luận và chưa hề kết thúc. Có người quả quyết: “Không có quyền gán cho nhân vật những hành động mà họ không làm, những ý nghĩ mà họ không nghĩ, đặt họ vào cảnh ngộ mà họ không có. Sự bịa đặt, thêm thắt chỉ làm hại cho bài kí” – Thậm chí nhà báo nổi tiếng viết kí B.Pôlêvôi cũng nói: “Kí nhất thiết không được hư cấu. Cuộc sống chúng ta muôn hình muôn vẻ như thế, lí thú như thế, biết bao nhiêu sự việc xảy ra, thực ra cũng không cần thiết phải hư cấu thêm thắt tô vẽ gì hơn nữa”. Nhưng lại có không ít các ý kiến trái chiều: “Hiện thực cuộc sống trong tác phẩm phải phong phú hơn, điển hình hơn hiện thực tự nhiên của cuộc sống. Vì vậy kí cũng phải được sáng tạo, bù đắp thêm các nhân tố mới ngoài cái có thật trong cuộc sống. Vì vậy, hư cấu trong kí phải được đặt ra theo đặc trưng của thể loại kí”. Hoặc: “Viết kí không phải là sự ghi chép một cách máy móc và tự nhiên chủ nghĩa. Nhân vật trong kí tuy có thật nhưng không đồng nhất với nguyên mẫu. Có thể thay đổi chút ít hiện thực, có thể tưởng tượng thêm những biểu hiện nội tâm”.
Qua các ý kiến trên, có thể hiểu, kí vẫn được hư cấu. Nhưng như vậy, rõ ràng hư cấu trong kí không giống với hư cấu trong truyện ngắn, tiểu thuyết. Đã từng có người đưa ra ý kiến hư cấu theo tỉ lệ phần trăm. Nếu truyện ngắn được hư cấu chín mươi hoặc một trăm phần trăm chẳng hạn thì kí chỉ tối đa khoảng hai mươi đến ba mươi phần trăm. Có lẽ đó chỉ là cách nói tương đối, chứ việc chia phần trăm như vậy thật khó thực thi trong quá trình sáng tác.
Vậy, hư cấu trong kí nên thế nào cho đúng? Như ta đã biết, nguyên tắc lớn nhất của thể loại kí là tính xác thực (là người thật, việc thật, có tên tuổi, địa chỉ…). Hư cấu trong thể kí luôn phải tôn trọng nguyên tắc thể loại. Người viết, dù hư cấu theo phương cách nào cũng không được làm mất tính xác thực của bài viết, thậm chí ngay cả việc đơn giản là mô tả ngoại hình nhân vật. Từng có một bài học lớn: Nhà báo B. Pôlêvôi trong một bài kí đã viết nhân vật quản đốc có thói quen chải tóc, nhưng trong đời thực thì vị quản đốc nọ lại hói như trọc. Thế là khi bài báo được đăng, ông quản đốc bị cả xưởng trêu chọc. Nhà văn bị phản ứng. Chỉ vì một chi tiết nhỏ như vậy mà bài kí mất đi sự xác thực. Một sự bất tín, vạn sự bất tin. (Có lẽ bởi rút kinh nghiệm trong quá trình viết kí của mình mà B. Pôlêvôi đã từng cho rằng kí không được hư cấu như đã nói ở trên chăng?).
Các nhà lí luận chia đối tượng viết kí thành hai thành phần: Thành phần xác định (là những sự kiện lớn mang ý nghĩa nền tảng, những nhân vật chủ chốt…) và thành phần không xác định (là những sự việc và những nhân vật không quan trọng). Ở thành phần xác định nói chung không nên hư cấu. Đối với thành phần không xác định có thể hư cấu rộng rãi hơn. Ta nhận thấy rất rõ vấn đề này qua các tác phẩm Sống như anh của Trần Đình Vân, Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi, Xung kích của Nguyễn Đình Thi và ở nhiều tác phẩm kí khác. Để tác phẩm kí sinh động, chiếm được cảm tình của độc giả thì việc gia giảm những tình tiết, tạo ra những nhân vật phụ, những bóng dáng phụ trong phạm vi thành phần không xác định là điều hết sức cần thiết, nhất là ở những tác phẩm kí dài. Tôn trọng tính xác thực không có nghĩa là không được thay đổi cấu trúc, sắp xếp, tổ chức lại hoặc đưa ra những phát kiến của chủ thể sáng tạo.
Có một thực tế là trong khi tiến hành lấy tài liệu, người viết kí luôn vấp phải những điểm trắng, điểm khuất. Đối với những cây bút có nhiều kinh nghiệm cũng khó tránh khỏi điều này. Điểm trắng, điểm khuất là những sự kiện, tình tiết ẩn, những vấn đề mà các nhân vật thường khó nói hoặc không thể nói, không thể diễn thành lời, có khi chỉ lấp ló trong tiềm thức. Đó thường là những tâm tư tình cảm, những khát vọng, những ước mơ, những ý tưởng của nhân vật rất cần đối với bài viết. Không biết cách xử lí những điểm trắng, điểm khuất thì khó hoàn thành bài viết một cách thành công. Người viết kí phải vượt qua những điểm trắng, điểm khuất bằng sự trải nghiệm của bản thân, bằng việc vận dụng qui luật phát triển tất yếu của cuộc sống, bằng ước đoán, tưởng tượng… Vậy là cần sự can thiệp của hư cấu. Về vấn đề này, xin được minh họa đôi nét qua bài kí “Phố xưa” của Minh Hằng, tác phẩm đoạt giải Nhì (cuộc thi không có giải nhất) trong Cuộc thi Sáng tác văn học trên báo Văn nghệ Thái Nguyên (2014 -2016). “Phố xưa” đã diễn tả khá thành công chủ đề về sự phát triển của đô thị đang đối mặt với những giá trị văn hóa. Nếu không thận trọng, không ai khác, mà chính con người trong thời hiện đại sẽ vô tình làm mất dần những giá trị của chính mình bởi sự thờ ơ vô cảm, thiếu hiểu biết. Trong bài, tác giả đã sáng tạo ra rất nhiều những chi tiết, những cảm xúc, những suy tưởng… làm nên “hương vị” riêng cho tác phẩm. Đặc biệt, hình ảnh “cây đa” cổ thụ và cái “giếng ngọc” được tác giả nhân hóa thành những nhân vật mang tính điển hình hóa, đã làm cho tác phẩm thấm đẫm chất dân gian. Đấy là một cách bù đắp những điểm trắng, điểm khuất.
Về cách lấy tài liệu, kí báo chí với kí văn học cũng có phần hơi khác nhau. Kí văn học ngoài những số liệu, những việc thật cần chú ý đến con người. Thông qua cảnh vật và sự kiện phải biết “nhìn, nghe” những tâm tư, tình cảm…của nhân vật. Một nhà văn có kể lại một chuyến đi thâm nhập thực tế của mình ở một làng khai hoang miền núi. Ở đó, ông nhận thấy trước cửa nhà của tất cả các gia đình trong làng đều trồng ba cây cau. Có thể cảnh tượng ấy sẽ là một chi tiết dễ dàng bỏ qua đối với người viết kí báo chí. Nhưng nhà văn này đã hình dung ra đó chính là nỗi hoài niệm cố hương da diết của những người dấn thân đi xây dựng kinh tế. Không chỉ là nỗi nhớ từ ý thức mà còn từ vô thức của những kẻ li hương ngàn năm vọng lại.

Các tác giả đoạt giải cuộc thi Sáng tác văn học năm 2014 – 2016 trên Báo VNTN.    Ảnh: Đ.T

Một điểm nữa, kí văn học cũng rất cần sự trau chuốt của ngôn ngữ. Tuy không sử dụng triệt để những hình thức tu từ như thơ, nhưng ngôn ngữ của kí văn học phải góp phần làm lay động tâm hồn con người, đặc biệt là với thể tùy bút. Ví như Cây tre Việt Nam của Thép Mới, Đường chúng ta đi của Nguyễn Trung Thành. Gần đây, bút kí Phố xưa của nhà báo Minh Hằng là một trong những bút kí có sự thành công trong việc sử dụng ngôn ngữ trong viết kí văn học. Xin dẫn một đoạn: “Nhà tôi ngay cạnh nhà chị Mùi. Ngày ngày, cứ ba giờ sáng là góc bên chị sáng trưng. Bóng chị lui cui đi lên đi xuống, lục cục đồ xôi, hãm tích nước chè ủ trong giỏ cói. Tôi hé mắt thấy vùng sáng, biết chị đã dậy, rồi lại ngủ thiếp đi. Đến khi mùi xôi nếp từ nhà chị ngào ngạt tỏa sang là tôi thức dậy. Người ta thường dùng tiếng chuông để đánh thức giấc ngủ, nhưng chị Mùi lại “đánh thức” tôi bằng hương vị xôi như thế. Sáng sáng, mở cửa thấy bóng chị Mùi nghiêng trĩu bên vai gánh hàng đi qua, tôi có cảm giác chị gánh mùi hương ra phố”.
Đọc một số bài kí trên báo chí ở ta, thấy một điều rất rõ là phần lớn các tác giả thường chỉ cố công sao cho bài viết nêu được vấn đề, theo đó là những số liệu dồi dào, cách lập luận tương đối chặt chẽ, khúc chiết. Đương nhiên, đó là những điều cần thiết. Tình hình báo chí hiện nay có một thực tế là các bản thảo kí văn học tuy rất cần nhưng lại ít người viết hơn so với truyện ngắn nên khi xử lí bản thảo, các biên tập viên thường không có những yêu cầu quá khắt khe, việc duyệt in cũng được chiếu cố hơn so với các mảng khác. Vì thế thường gây một tâm lí trung bình cho người viết kí. Có phải vì lí do trên mà không ít các bài kí in báo hiện giờ trong cấu trúc thường có một kiểu, một màu nhạt nhẽo, xơ cứng. Thậm chí lối viết kí công thức cũ mòn theo cách tả cảnh một chút, tả tình một chút, địa lí, lịch sử, truyền thống một chút; rồi gặp gỡ nhân vật, trò chuyện, nêu khó khăn, thuận lợi, sự vượt lên, các thành tích, hướng phát triển… hầu như vẫn chiếm vị trí đa số trên mặt báo.
Muốn có độc giả thực sự, người viết kí rất cần sự đổi mới (nhất là kí văn học) cả về nội dung lẫn hình thức. Vào mấy thập kỉ trước của thế kỉ XX, kí sự của nhà văn Oveskin (Liên Xô cũ) rất hấp dẫn với những lời bàn sâu sắc về các vấn đề nóng của xã hội, những diễn biến bên trong của con người, đã từng cuốn hút mạnh mẽ các độc giả Việt Nam. Nói không hề ngoa, các kí sự của ông có sức hấp dẫn hơn các truyện ngắn bình thường rất nhiều. Hay những năm gần đây, tập ghi chép Những người thường gặp của nhà thơ Trần Đăng Khoa cũng chiếm được cảm tình của người đọc nhờ lối viết đơn giản, bình dị, gần gũi mà đầy sáng tạo.
Ở Thái Nguyên đã xuất hiện một loạt các tác giả khá thành công trong thể kí văn học như Lê Thế Thành, Minh Hằng, Lưu Bạch Liễu, Phạm Ngọc Chuẩn…Tuy nhiên, phấn đấu để mỗi cây bút có thể tạo ra cho mình một lối viết riêng, một màu sắc riêng thì còn là con đường ở phía trước. Không bao giờ nên mặc “đồng phục” cho các thể loại văn học, và có lẽ cả trong các thể báo chí.

Hồ Thủy Giang

Rate this post
Continue Reading

Blog

Áo dài Cát Tường | Tạp chí Văn Nghệ Thái Nguyên điện tử

Published

on

By

VNTN – Càng ngày áo dài truyền thống càng phổ thông hơn ở nước ta và trên thế giới. Đến nỗi đã có vài luận án tiến sỹ ở Mỹ và Úc được nghiên cứu với đề tài áo dài Việt Nam, trong số đó có một luận án của một nghiên cứu sinh người Mỹ về đề tài Áo dài Cát Tường (Lemur). Có một thực trạng là rất nhiều người, trong đó có cả những nhà thiết kế áo dài hiện nay, hiểu lầm về nhà thiết kế Cát Tường và giòng áo dài của ông.
Trước hết, ông Cát Tường là một họa sỹ có tầm cỡ chứ không phải là thợ may. Ngoài ra, nhiều người hiểu lầm rằng cái áo dài ngày nay là do họa sỹ Cát Tường tạo ra. Và rằng ông đã thiết kế áo dài hiện đại từ áo tứ thân cổ truyền. Đây là những sự hiểu lầm rất đáng tiếc. Thật ra hai giòng áo dài tứ thân và năm thân (năm tà), được truyền xuống từ ngàn xưa, vẫn luôn giữ nguyên vẹn hình dạng và tính chất của chúng. 

Y phục Trung Hoa, mà người Việt xưa vẫn xem là mẫu mực, được phân loại cụ thể từ đời Minh (1368 – 1644) thành ba dạng chính: Dạng thứ nhất là Bàn Lĩnh có cổ tròn và vạt áo trước cài sang bên phải. Dạng thứ hai là Trực Lĩnh với hai vạt gặp nhau ở giữa cổ và vạt áo trước xẻ giữa. Dạng thứ ba là Giao Lĩnh với hai vạt trước chéo nhau.

Áo dài tứ thân thôn quê Bắc Bộ (hai vạt trước vắt chéo)

Áo tứ thân thuộc dạng Trực Lĩnh, không cổ. Áo này có gốc là áo “Trách tụ trường bối” hay “Đối khâm trách tụ” được phổ biến bên Trung Hoa ít nhất từ thời Hán, nhưng rõ nét hơn từ đời Đường (618 – 907). Ở thôn quê miền bắc Việt Nam, áo dài tứ thân mặc với xiêm (nay thành váy), và thường được cắt ngắn bớt đi cho tiện, gọn hơn.

Trong khi đó áo dài năm thân thuộc giòng Bàn Lĩnh. Trên hai ngàn năm của phục trang sử Trung Quốc không thấy nhắc đến loại áo dài 5 thân này. Nó chỉ có ở Việt Nam. Vì nguyên tắc che cổ giấu tóc của người Việt, nên áo dài năm thân được gắn thêm cái cổ xây (cổ đứng). Áo dài năm thân Việt Nam ít nhất đã được hình tượng hóa rõ ràng qua pho tượng ngọc nữ được tạc từ thế kỷ 17, ở chùa Dâu, Thuận Thành, Bắc Ninh. Cái áo dài trên pho tượng này không khác gì áo dài bây giờ.

Từ khi kỹ thuật dệt vải được cải tiến và khổ vải được tăng chiều rộng từ 40cm lên ít nhất gấp đôi, việc nối khổ vải cho đủ bề rộng của áo không cần thiết nữa; và nhiều nhà thiết kế áo dài lúc ấy, hầu như tất cả là họa sỹ, áp dụng ngay ý tưởng này. Dẫn đầu là các họa sỹ Lê Phổ và Lê Thị Lựu trong thập niên 1930. Áo dài do các họa sỹ này thiết kế vẫn giữ gần như nguyên vẹn hình dạng của cái áo dài năm thân cổ truyền, chỉ giản lược đi phần nối giữa sống áo để chỉ còn có ba thân. Áo dài ba thân ngày nay ra đời từ đó.
Khoảng giữa thập niên 1930, họa sỹ Cát Tường, với nghệ danh dùng riêng trong ngành thiết kế trang phục là Lemur (le mur trong tiếng Pháp có nghĩa là bức tường), muốn làm một cải cách táo bạo hơn cho áo dài Việt Nam. Trong hoàn cảnh xã hội và văn hóa lúc đó, khi răng không nhuộm đen và tóc vấn không chải ngôi giữa vẫn còn bị miệt thị nặng nề; khi mà nguyên tắc che cổ giấu tóc từ xửa xưa vẫn còn được xem là khuôn mẫu của đạo đức, thì các ý tưởng cải cách của họa sỹ Cát Tường quả thật đã gây sốc cho đa phần dân chúng.

Tượng Ngọc nữ chùa Dâu (với tấm vân khiên phủ trên vai và quầy nghê thường quấn quanh thân từ eo trở xuống)

Hãy đọc một đoạn văn do chính họa sỹ Cát Tường viết trên báo Phong Hóa số ra ngày 23 tháng 2 năm 1934, về ý tưởng của ông:
“Các bạn thử để ý xem, cái áo hiện thời của các bạn có cái gì bất tiện, và thừa không? Muốn để các bạn khỏi tốn thì giờ vô ích, tôi xin thưa: Chính cái cổ là cái thừa, và hai ống tay bất tiện. Cúc cổ chẳng bao giờ cài thì cái cổ để làm gì? Tôi xin hỏi? Để che cổ ư? Thì nó nhỏ síu thế kia, che thế nào là đủ, vả lại áo các phụ nữ nước lạnh bên Âu, Mỹ còn chẳng cần cổ, nữa là xứ ta khí hậu rất nóng. Còn hai ống tay thì… thì các bạn cứ thử co tay lại vuốt mái tóc mà xem. Có phải nó chật quá không?… nó khó chịu và bất tiện lắm không?”
Áo dài Cát Tường lúc cao trào là loại áo ba thân, thường có cổ tròn hay khoét trái tim có kết nơ. Vai áo may bồng. Áo nhiều khi không có tay, và thậm chí có khi để hở phần trên lưng. Quần áo dài cũng được ông cải tiến cho loe ra với các viền ống khác nhau. Tựu trung là áo dài Cát Tường rất Tây Phương và dĩ nhiên là táo bạo.

Áo dài Cát Tường cho người cao và gầy

Áo dài Cát Tường cho người béo và lùn

Phu nhân họa sỹ Cát Tường (đội mũ trắng)
trong một mẫu áo dài Lemur (1940)

Có thể tưởng tượng là xã hội hãy còn cứng nhắc về phong tục của ta lúc đó phản ứng thế nào về các ý tưởng canh tân này. Chỉ một số người bị coi là ăn chơi, cấp tiến lắm mới dám mặc áo Le Mur.
Khi thế chiến thứ hai, với ảnh hưởng không nhỏ ở Việt Nam, bắt đầu trở nên khốc liệt, thì áo dài Cát Tường dần đi vào quên lãng, nhất là sau khi họa sỹ Cát Tường mất tích, và được cho là qua đời, năm 1949, ở tuổi 35. Nhưng có thể nói rằng các mẫu áo dài cải cách của Lemur Cát Tường không dính dáng gì nhiều đến cái áo dài thông thường của phụ nữ Việt bấy lâu nay. Và các ý tưởng của ông có lẽ hợp thời hơn ở thế kỷ 21 này.

Quả thật hiện nay nhiều nhà thiết kế áo dài đang cố tìm ý tưởng mới bằng cách bỏ tay và cổ áo dài trong tác phẩm của họ. Họ có biết đâu là đã chỉ bắt chước những gì họa sỹ Cát Tường nghĩ và thiết kế ra từ hơn nửa thế kỷ trước

(Nguồn: soi.com.vn)

Rate this post
Continue Reading

Blog

Thơ và lời bình: Thời gian

Published

on

By

Thời gian 

Thời gian qua kẽ tay
Làm khô những chiếc lá
Kỷ niệm trong tôi
Rơi
như tiếng sỏi
               trong lòng giếng cạn
Riêng những câu thơ
 còn xanh
Riêng những bài hát
còn xanh
Và đôi mắt em
như hai giếng nước.

Văn Cao

Bài thơ này Văn Cao làm vào mùa xuân năm 1987. Một thi phẩm viết về thời gian, cái khái niệm quen thuộc gắn với chúng ta trong quá khứ, đến hiện tại và tương lai. Bài thơ hàm súc mang những trải nghiệm cuộc sống thâm hậu.

Với Văn Cao, thời gian là cái có thể cảm nhận được rất rõ ràng. Cái được đo bằng thiên kỷ, thế kỷ, thập kỷ, năm, tháng, ngày, giờ, phút, giây ấy trong bước đi vô tận của mình đã kịp để lại “cảm giác” qua kẽ tay của một nghệ sỹ đa tài. Thời gian qua kẽ tay. Bằng sự nhạy cảm ông đã nhận ra nhịp lưu hành của cái vô hình: thời gian. Và, bước đi của nó trong một cuộc đời nhanh lắm. Thời gian để lại dấu ấn trên ta với những đổi thay về thể xác, tâm hồn qua mỗi chặng đời tựa sự an bài không gì cưỡng lại được. Điều ấy, được diễn đạt ở bài thơ này thật giản dị với những thi ảnh, âm thanh không hề xa lạ cao siêu với chúng ta: Thời gian qua kẽ tay / Làm khô những chiếc lá / Kỷ niệm trong tôi / Rơi / Như / tiếng sỏi / trong lòng giếng cạn.
Mấy câu thơ cứ nặng dần, nặng dần và bị chia cắt bởi lối xuống dòng bất chợt. Hình như có cái gì đó không được trôi chảy, hanh thông và biết đâu trong đấy còn những trắc ẩn chìm khuất chưa được giãi bày. Thiên nhiên, cảnh vật, tâm hồn không còn xanh tươi, nhẹ nhàng như thuở nào nữa. Những chiếc lá đã bị úa héo…Tiếng rơi của hồi ức khô khốc nặng nề như tiếng sỏi trong lòng giếng cạn. Tiếng rơi kỷ niệm chẳng hề êm dịu nếu như không muốn nói rằng đó là tiếng rơi chát đắng của dĩ vãng xuống nền hiện tại cằn cỗi.

Nếu chỉ như thế, Văn Cao cứ mải mê đuổi theo những héo khô nặng nề dù có thật chăng nữa thì chắc bài thơ không lưu lại trong ta nhiều suy ngẫm đáng kể. Người đọc may ra chỉ chia sẻ cảm thông và có thể cùng ngậm ngùi về thế cuộc, về nhân tình với tác giả mà thôi.

Không, những tâm hồn thoáng đạt, những tầm nghĩ lớn lao như Văn Cao không bao giờ dừng lại ở đó. Ông biết tôn vinh, nâng lên những nét đẹp, nguồn sáng, sự tươi tắn của cuộc sống mà trước hết là của nghệ thuật và tình yêu đích thực. Triết lý nhân sinh, lãng mạn cuộc sống thêm lần nữa được Văn Cao viết lên bằng những thi ảnh lung linh: Riêng những câu thơ / còn xanh / Riêng những bài hát / còn xanh / Và đôi mắt em như hai giếng nước.

Thế chỗ những chiếc lá khô, lòng giếng cạn là những câu thơ còn xanh và những bài hát còn xanh cùng với đôi mắt em, đôi mắt của tình yêu đẹp đẽ, trong mát như hai giếng nước. Đôi mắt em như hai giếng nước, một sự ví von tuyệt vời; cái đẹp mát rượi sâu đằm nhưng cũng gần gũi thân thuộc làm sao. Đôi mắt ấy, tình yêu ấy sẽ tưới mát tâm hồn ta, sẽ giải thoát ta ra khỏi những héo úa khô khát cằn cỗi của cuộc sống.

Năng lượng thơ được giải phóng từ những hình ảnh, câu chữ đắc địa, ngỡ bình thường mà rất sâu sắc, dễ hiểu nhưng không nông cạn, triết lý nhưng không cần viện cao siêu rườm rà. Thời gian của Văn Cao, một thi phẩm “Ý tại ngôn ngoại”, tôi cho là thế!

 Nguyễn Hữu Quý

Rate this post
Continue Reading

Trending

Bạn không thể sao chép nội dung của trang này