Connect with us

Blog

Truyện hay nên đọc – Top 8 bộ truyện hay nên đọc ít nhất 1 lần trong đời

Published

on

Đơn vị tài trợ Quảng Cáo

Những bộ truyện hay nên đọc ít nhất 1 lần trong đời

Kho tàng quý giá nhất của con người chính là tri thức. Để có tri thức thì chúng ta phải đọc thật nhiều sách để cung cấp nguồn kiến thức quý giá cho bản thân. Sách thì cung cấp kiến thức nhưng bên cạnh đó bạn không thể bỏ qua những quyển truyện, tiểu thuyết hay.. Vì nó cung cấp cho ta những bài học hay và ý nghĩa trong cuộc sống. Mỗi loại đều mang lại một lợi ích riêng nhưng mục đích chung vẫn là nâng cao sự hiểu biết.

Sau đây Trí thức & Công Luận sẽ giới thiệu cho bạn những mẫu truyện hay và vô cùng ý nghĩa. Nếu chưa từng đọc hãy nhanh tay tìm mua để đọc ngay nhé.

Top 8 bộ truyện hay nên đọc trong đời

Giết con chim nhại (To kill a Mockingbird) – Harper Lee

Đây chính là quyển tiểu thuyết của nhà văn Harper Lee, một nhà văn người Hoa Kì. Quyển tiểu thuyết này được ra đời vào ngày 11 tháng 7 năm 1960 cách đây đã gần 60 năm.

Quyển tiểu thuyết này nhằm dạy các học sinh về lòng khoan dung để con người ta có thể mở lòng mình hơn tha thứ những điều sai trái. Ngoài ra nó còn được chuyển thể thành phim và đạt nhiều giải thưởng cao.

To kill a Mockingbird được viết với cái nhìn của một cô bé về xã hội xung quanh và với đối mắt bé thơ khi quan sát những gì đang diễn ra.

Đây chính là một bộ truyện đáng để bạn đọc vì nó sẽ giúp cho bạn biết được nhiều điều bất công trong cuộc sống. Cũng như giúp cho bạn nhận ra những điều quý giá trong bộ truyện này.

Truyện hay nên đọc - Giết con chim nhại
Truyện hay nên đọc – Giết con chim nhại

Gatsby vĩ đại (The Great Gatsby) – F Scott Fitzgerald

The Great Gatsby một tác phẩm kiệt xuất được viết với ngòi bút của một nhà văn tài ba là F. Scott Fitzgerald người Hoa Kì. Quyển tiểu thuyết này được nhà văn cho ra mắt vào tháng 4 năm 1925 cách đây cũng đã 94 năm ( gần 1 thế kỉ).

Với giọng văn hay và hấp dẫn nhưng ở lần đầu ra mắt. Quyển tiểu thuyết này không nhận được nhiều sự lựa chọn của đọc giả. Nhưng sau đó vào năm 1945 quyển tiểu thuyết này lại được hồi sinh một lần nữa. Lần này quyển tiểu thuyết đã đi sâu vào lòng người đọc, khi số lượng người mua ngày càng gia tăng một cách nhanh chóng. Các bạn hãy nhanh chóng tìm kiếm quyển tiểu thuyết này để đọc nhé.

Xem thêm Kaizen là gì ?

Người yêu dấu (Beloved) – Toni Morrison

Đây là một câu chuyên kể về một người nô lệ Mỹ gốc Châu phi đã thoát khỏi chế độ nô lệ. Tác giả của quyển tiểu thuyết này chính là nhà văn người Mỹ Toni Morrison. Tac phẩmđược xuất bản vào tháng 9 năm 1987

Chế độ nô lệ một chế độ hung ác trong xã hội lúc bấy giờ con người ta phải trải qua sự mất mát, chia ly, đau đớn tột cùng. Quyển tiểu thuyết được viết lên từ chính ngòi bút trong xã hội mà chính tác giả đã cảm nhận được.

Wolf Hall – Hilary Mantel

Quyển tiểu thuyết này được ra đời vào ngày 30 tháng 4 năm 2009 của nhà văn người Anh tên là Hilary Mantel. Nó khắc họa lên giai đoạn lịch sử nổi tiếng lúc bấy giờ.

Với giọng văn truyền cảm và thu hút người đọc, tác phẩm này đã ghi lại dấu ấn trong lòng người đọc. Hãy tìm hiểu thêm về tác phẩm này để các bạn có thể hiểu rõ hơn và sẽ cảm nhận được cái hay và thú vị trong tác phẩm.

The Leopard (Con báo) – Giuseppe Tomasi di Lampedusa

Tiểu thuyết này có nguồn gốc từ Ý và được phát hành vào năm 1958 và đã đạt được giải thưởng Strage. Trong quá trình chống chọi lại căn bệnh trầm cảm của mình Giuseppe Tomasi di Lampedusa  đã viết lên tác phẩm này.

Trăm năm cô đơn (100 Years of Solitude) – Gabriel Garcia Marquez

Đây là tác phẩm được viết theo ngôn ngữ Tây Ban Nha. Với giọng văn hấp dẫn và lối dẫn dắt câu chuyện đã khiến cho tác phẩm được sự chú ý và yêu mến của nhiều khán giả hâm một ở rất nhiều quốc gia trên thế giới thông qua những bản dịch từ tác phẩm chính.

Đây chính là tác phẩm đại diện cho nền văn học Mỹ latinh. Hãy tìm đọc sâu vào từng từ ngữ trong câu chuyện để cảm nhận về câu chuyện này.

Truyện hay nên đọc - Trăm năm cô đơn
Truyện hay nên đọc – Trăm năm cô đơn

Charlie and the Chocolate Factory (Charlie và nhà máy sô-cô-la) – Roald Dahl

Sôcôla chính là món kẹo yêu thích của trẻ nhỏ. Charlie and the Chocolate Factory chính là tác phẩm viết dành cho các em thiếu nhi. Đây là câu chuyện kể về nhân vật chính Charlie bucket. Một cậu bé may mắn khi nhặt được tiền và dùng số tiền đó để mua socola. May mắn đã đến với cậu bé khi cậu nhận được chiếc vé vàng trong thanh socola vừa mua. Sau đó được tham quan nhà máy socola của ông chủ Willy Wonka. Tại đây cậu bé đã có một chuyến phiêu lưu kì thú .

Giữa lòng tăm tối (Heart of Darkness) – Joseph Conrad

Kiệt tác văn học chính là món quà quý giá mà tác giả đã mang lại cho nền văn học nước nhà. “ Giữa dòng tăm tối” là một tác phẩm nổi tiếng và xuất sắc trong giai đoạn bấy giờ.

Hành trình phiêu lưu của tác giả đã được chính ngòi bút của ông viết lại để cho mọi người cùng đọc và khám phá về những gì mới mẻ. Bằng giọng văn lôi cuốn và thu hút câu chuyện đã được tác giả khác họa lại một cách sâu sắc và chân thật nhất.

Trên đây là tên những bộ truyện ngắn hay vô cùng ý nghĩa đối với mỗi người. Các bộ truyện ngắn này cũng rất dễ mua tại các nhà sách trên toàn quốc. Nhanh tay mua về đọc ngay nhé các bạn !

Đơn vị tài trợ Quảng Cáo

Rate this post
Continue Reading
Click to comment

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Blog

Đôi điều về tranh tuấn mã

Published

on

By

VNTN – Trong phong thủy, khi một hình tượng phổ biến mang nội dung tích cực sẽ tạo một “trường khí tích cực”, ngược lại một hình ảnh tiêu cực sẽ làm phát sinh “trường khí tiêu cực”. Theo đó, sự vận dụng hình tượng ngựa cũng không ngoài ý nghĩa này.


Tranh quý xưa và nay

Với những ưu điểm như đẹp, khôn, khỏe và dẻo dai, ngựa đã được nhiều họa gia Đông Tây kim cổ đưa lên tranh với tất cả sự hào hứng, riêng trong hội họa Trung Quốc đã có những danh gia kiệt xuất vẽ ngựa như Tào Bá và Hàn Cán đời Đường, Lý Long Miên đời Tống, Triệu Mệnh Phủ đời Nguyên. Họ đã lột tả được cả tính tướng, thần và những nét đẹp của loài ngựa.

Tưởng như tranh ngựa không còn thêm được điều gì khác hơn nữa, nhưng một tài năng trẻ sinh vào cuối đời Thanh là Từ Bi Hồng bỗng nổi lên, gần như vượt trội so với các bậc tiền bối nhờ đã đưa cái mới vào tranh ngựa, đó là thế và dáng rất hùng dũng, sống động, điều mà trước kia chưa được xét tới. Ngựa của Từ Bi Hồng dồn vó phi như bay làm cho không gian và mặt đất rung chuyển, dường như không có gì cản phá được. Cái đẹp – hùng của ngựa chủ yếu ở sự mềm mại, của đuôi và của bờm ngựa chứ không phải ở bộ vó ngựa cứng chắc như ta tưởng. Quả thật đến nay chưa có thêm họa gia nào vượt được Từ Bi Hồng về tài năng vẽ ngựa.

Tranh về ngựa đã xuất hiện trong nhiều nền văn hóa của thế giới từ hàng ngàn năm về trước, và cho đến nay chúng vẫn rất được ưa chuộng. Đặc biệt ở các nước châu Á nói chung, ở Việt Nam nói riêng, mỗi dịp Tết đến xuân về người ta thường tặng nhau bức tranh ngựa – với ý nghĩa để cầu may mắn, tài vận, thành công trong sự nghiệp và cuộc sống. Ngoài ra, những sự kiện khác trong năm như khai trương cửa hàng, cửa hiệu, khánh thành công ty, tân gia, chúc mừng thăng quan tiến chức v.v… thì tranh ngựa cũng là món quà luôn được ưu tiên lựa chọn nhiều nhất.

Tranh quần mã của Từ Bi Hồng

Nắm bắt được tâm lý người tiêu dùng, đáp ứng nhu cầu của xã hội, các thương gia đã nhập về vô số những tranh và phù điêu ngựa. Với các chất liệu khác nhau từ gỗ, sơn mài, kim loại, đất nung, sơn dầu, đặc biệt là tranh thêu chữ thập đã được bày bán la liệt trên thị trường. Những tranh này đa phần được in hoặc là do các thợ vẽ sao chép, biến tấu, thêm bớt cho lạ mắt, nên thường không có tác giả đứng tên. Ngắm kỹ các tranh ngựa này thì đa số chỉ thấy xác ngựa chứ không thấy có dáng – thế. Một số tranh thêu hay tranh ghép bằng “đá quý” còn tệ hơn: với hình ảnh ngựa què quặt, sai giải phẫu, đầu nhấp nhô không biết gắn vào thân nào. Có tranh thì vẽ cả bầy ngựa chạy nháo nhác như kẻ bại trận, không giống tranh “mã đáo thành công” một chút nào.

Trong mười hai con giáp thì ngựa là biểu tượng cho sự trung thành và tận tụy, đồng thời là biểu tượng cho tài lộc, thành công. Hình ảnh ngựa tung vó hý vang biểu tượng cho sự kiêu hãnh và tự do thanh khiết… Tuy nhiên, mỗi bức tranh ngựa lại mang một ý nghĩa, thông điệp về điều tốt lành khác nhau. Dựa trên số lượng ngựa, hình dáng các con ngựa hay hướng đi như thế nào, người xưa đã gửi vào đó một ý niệm tốt lành. Ngày nay việc sử dụng tranh ngựa vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau, và không phải ai cũng tỏ tường.

Các loại tranh mang đặc trưng, ý nghĩa riêng 

Mỗi tranh ngựa đều có ý nghĩa riêng, dĩ nhiên không phải cứ tranh Mã đều gọi là “Mã đáo thành công”. Mã đáo có nghĩa là may mắn đi về, vậy tranh mã đáo phải vẽ đàn ngựa hướng quay trở về, tức là nhìn vào tranh hướng đi của đàn ngựa từ phải sang trái. Trong ngôi nhà, tranh “Mã đáo thành công” treo ở cung phía Nam (Cung Danh tiếng) hay cung phía Bắc (cung Quan Lộc) đều được. Tốt nhất “Mã đáo thành công” nên treo sao cho hình tượng ngựa quay vào nhà. Vì vậy, trong trường hợp này nên treo tranh ở cung phía Bắc sẽ tốt hơn cả hai phương diện là quan lộc và thành công trong phong thủy.

Những tranh “Mã đáo thành công” thường có tám con ngựa, vì người xưa quan niệm “bát” (con số 8) được dùng khá nhiều trong dân gian và phong thủy như bát tiên (tám vị tiên trong truyền thuyết), bát quái (theo kinh dịch là tám trạng thái khác nhau, tổ hợp chập ba của âm/dương trong quá trình hình thành vũ trụ và vạn vật), bát chính đạo (theo phật học là con đường tám nhánh để giải thoát khỏi khổ; là chân lư cuối cùng, cao cả, gốc cơ bản của phật giáo)… như đã nói ở trên, số 8 “Bát” (chữ Hán là 八) đọc theo Hán ngữ thì gần âm với chữ Phát, có nghĩa là phát đạt, giàu có. Tranh này thường chỉ dành tặng những người mới bắt đầu làm ăn buôn bán, mới khai trương hoặc những người đang trên đường lập công danh. Theo dị đoan, những người này một khi đã thành công thì không được đem tặng, làm mất hay hư hủy bức tranh này. Người có quyền chức hoặc đại gia thì không nên nhận tranh “Mã đáo thành công” vì nó sẽ có nghĩa ngược lại (mã truy phong) đem phong ba tới sẽ gây trắc trở. Những người này thường dùng những vật dụng trong phong thủy để bảo vệ và làm bền vững những gì họ đang có.

Một tranh ngựa được vẽ chắp vá

Theo truyền thuyết, “Mã đáo thành công” có nguồn gốc từ Trung Hoa. Thời nhà Chu có vị vua thứ năm tên là Chu Mục Vương (1001 – 746 TCN) nổi tiếng sử sách vì ông sở hữu tám con ngựa đặc biệt và được dân gian gọi là “Bát tuấn”. Theo một số tài liệu ghi chép, Chu Mục Vương đặt tên cho tám con ngựa lần lượt là: Xích Ký, Đạo Ly, Bạch Mã, Du Luân, Sơn Tử, Cừ Hoàng, Hoa Lưu, Duyên Nhỉ. Người điều khiển xe ngựa có tên là Tạo Phụ. Tạo Phụ thường chở Chu Mục Vương đi vi hành khắp nơi trên chiếc xe ngựa đặc biệt do tám con ngựa này kéo. Tương truyền dưới thời Chu Mục Vương, dân tình có cuộc sống khá thịnh vượng. Vì thế các họa sĩ thời đó thường họa lại nhiều bức tranh với chủ đề tám con ngựa và gọi là “Bát Tuấn Đồ”.

Trong các bức tranh phong thủy về ngựa thường ta thấy có một ngựa trong đàn quay đầu trở lại (ngựa thứ tư hoặc thứ năm) mang ý nghĩa khuyến khích những con ngựa còn lại chạy nhanh hơn. Còn riêng tranh “Mã đáo thành công” thì không có con ngựa nào quay đầu, vì theo dân gian quan niệm như thế là một phần tiền tài bị mất.

Trường hợp khác, tranh vẽ tám con ngựa chạy trên bãi biển được gọi là “Bát mã quần thủy”. Trong ngũ hành, ngựa thuộc hành hỏa, nước là hành thủy, tương khắc với nhau, hình ảnh ngựa phi như bay trên nước tượng trưng cho sự ý chí, cầu mong mạnh mẽ hơn, gắng vượt qua mọi khó khăn gian khổ để tiến đến vinh quang.

Còn đối với tranh “Ngựa tung vó trên thảo nguyên” – tám con ngựa đang phi trên thảm cỏ bao la có ý nghĩa may mắn, tài lộc. Theo ngũ hành, ngựa hành hỏa, đồng cỏ tượng trưng cho cả hành thổ và hành mộc. Bức tranh là vòng kín thể hiện quy luật tương sinh giữa: Mộc – Hỏa – Thổ. Vì thế treo bức tranh này cũng cầu mong may mắn tài lộc, may mắn sẽ đến với mình.

Hiện nay có rất nhiều tranh ngựa được biến thể có số con ngựa khác nhau như “Độc mã”, “Song mã”, “Tam mã”… Người ta tránh dùng tứ mã và ngũ mã vì chữ “Tứ” gần chữ “Tử”, còn chữ “Ngũ mã” thì gợi nhớ đến “Ngũ mã phanh thây”, quan niệm người xưa cho là treo tranh này trong nhà sẽ rủi ro không tốt.

Cũng có người cho rằng không nên dùng tranh “Độc mã” (một con ngựa) vì nó gần với hình ảnh của  “Đơn thương độc mã”. Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng chỉ một con duy nhất trở về chứng tỏ con ngựa đó là may mắn nhất, mạnh mẽ và thành công nhất vượt lên tất cả mọi khó khăn…, nên những người có tính khí mạnh mẽ thì vẫn thích chơi tranh độc mã. Đối với tranh “Mã đáo song hành” – tranh vẽ hai con ngựa đạp nước, không mang nhiều ý nghĩa về tài lộc, công danh. Song những bức tranh ngựa này được xem là tranh bổ trợ cho phong thủy nhà ở, văn phòng, cửa hàng rất hiệu quả vì theo phong thủy tranh ngựa có tác dụng hóa giải sát khí của sao Nhị Hắc (sao xấu thường đem lại vận sa sút và bệnh tật).

Với tranh “Tam mã”- tranh vẽ ba con ngựa đang chạy, tượng trưng cho sự thành công, thuận lợi trong mọi công việc. Tranh ngựa phong thủy tam mã mang nguyên khí của Thổ. Nó không những đem lại tài lộc, công danh mà còn có tác dụng phát huy Thổ khí. Bức tranh có hình ba con ngựa nên treo ở gần bàn làm việc và chỗ tài vị trong nhà. Mặt nên hướng ra cổng lớn hoặc cửa sổ sẽ đại cát.

Còn tranh “Lục mã” – tranh vẽ sáu ngựa đem nhiều điều tốt lành. Vì số 6 theo âm Hán Việt đọc là “Lục” – gần giống “Lộc”, có nghĩa là tiền tài. Sáu con ngựa cùng phi, như mang ý nghĩa ngựa mang của cải sinh tài vào nhà.

Mặc dù tranh ngựa mang lại điềm lành cho gia chủ về thăng tiến sự nghiệp, nhưng khi dùng cần lưu ý về hướng treo tranh. Nên bày tranh ngựa ở phía Nam hay phía Tây Bắc. Cần tránh treo tranh ngựa có hình dáng ngựa quay đầu hướng trở ra cửa hay tranh để ở bếp và nhà tắm. Tranh ngựa nên để ở phòng khách, phòng làm việc hoặc phòng ngủ sẽ mang đến vận may về danh vọng, tình yêu hôn nhân hạnh phúc lâu bền.

Quan niệm dân gian, ngựa mang đến điềm lành cho sự thịnh vượng nhưng lại khắc với những người tuổi Tý, vì ngựa thuộc hành hỏa. Do vậy tranh ngựa sẽ thích hợp nhất với gia chủ (quý ông) mang mệnh thổ.

Hy vọng một vài điều suy ngẫm về Tranh tuấn mã sẽ phần nào hữu ích với độc giả về cách sử dụng và treo tranh ngựa trong nhà cho đại tài – đại lộc.

Gia Bảy

Rate this post
Continue Reading

Blog

Những vần thơ đẹp về mười cô gái Ngã ba Đồng Lộc

Published

on

By

VNTN – Ngã ba Đồng Lộc (Can Lộc – Hà Tĩnh) đã mãi mãi đi vào lịch sử dân tộc ta với những chiến tích hào hùng trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Địa danh này gắn liền với tên tuổi, chiến công và sự hy sinh anh dũng của mười cô gái thanh niên xung phong tuổi đời còn rất trẻ. Ngày 24 tháng 7 năm 1968, trong khi các cô đang làm nhiệm vụ san lấp hố bom thông đường cho xe ra tiền tuyến thì máy bay Mĩ ào đến ném bom, giết hại cả tổ thanh niên xung phong này. Từ đó, tinh thần chiến đấu và sự hy sinh anh dũng của mười cô gái trên Ngã ba Đồng Lộc đã trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm, kiên cường trong chiến đấu của những chiến sĩ thanh niên xung phong nói riêng và quân dân ta nói chung.

Đã có hàng trăm bài thơ ra đời nhằm ca ngợi, tỏ lòng khâm phục và tiếc thương mười cô gái ở Ngã ba Đồng Lộc. Các nhà thơ đã coi địa danh này là “ngã ba trái tim”, là điểm gặp gỡ của cảm xúc. Nhà thơ Huy Cận đã phát hiện và làm nổi bật giá trị, ý nghĩa của Ngã ba Đồng Lộc bằng một giọng thơ vừa trữ tình vừa triết lý sâu xa:

Các ngã ba khác trên đời làm bằng nước, bằng sông, bằng thủy triều lên xuống

Hay bằng đá bằng đất

Bằng xi măng cốt sắt

Bằng vôi trắng gạch xây

Bằng đèn xanh, đèn đỏ đủ màu

Hay bằng những sự chênh vênh vấp ngã

Nhưng ngã ba Đồng Lộc làm bằng 

                                        xương máu…

                              (Ngã ba Đồng Lộc)

Để làm nên Ngã ba Đồng Lộc lừng lẫy chiến công, trở thành niềm tự hào của quân dân cả nước, khiến quân thù mất ăn mất ngủ, ngày đêm tìm cách đánh phá, thì những chiến sĩ nơi đây phải đánh đổi bằng xương máu của mình. Cũng bởi vì thế mà Ngã ba Đồng Lộc đã mang một vẻ đẹp riêng biệt, không giống bất cứ một ngã ba nào khác. Mảnh đất và con người nơi đây phải hứng chịu hàng nghìn tấn bom đạn của giặc và những người lính đã không sợ gian khổ, hy sinh để mạch máu giao thông không bị tắc nghẽn. Bàn tay, đôi chân của các cô thanh niên xung phong còn nhanh hơn kíp nổ. Có cô thì chuyên lấp hố bom, có cô thì chuyên phát hiện bom nổ chậm và tự nguyện làm “cọc tiêu sống” đứng cắm cờ canh bom nổ chậm để dẫn đường cho xe ra tiền tuyến. Trong trường ca Vạn lý Trường Sơn, nhà thơ Nguyễn Hữu Quý đã phác họa dáng vẻ hiên ngang của những người con gái đứng báo bom nổ chậm, mang vẻ đẹp vừa thánh thiện vừa trần thế:

Em cấy vào đêm sự sống 

                      mong manh mùi con gái

Với những hàng tiêu bằng thân thể 

                                          trắng ngần

Những vầng ngực rời nơi trú ẩn

Kéo trăng về bên hút bom câm…

Các cô tự nguyện kéo về phía mình những bầy “con ma”, “thần sấm” và dũng cảm đón nhận loạt bom để cứu con đường khỏi bị thương, đảm bảo cho đoàn xe chở vũ khí cùng những đoàn quân ra tiền tuyến. Sự hy sinh của mười cô gái đã trở thành nguồn động viên cho những người lính khi ra trận, hồn các cô đã hóa thành những vì sao dẫn đường đêm đêm, thành ánh trăng làm dịu đi cái khắc nghiệt của cuộc chiến tranh:

Em nằm dưới đất sâu

Như khoảng trời đã nằm yên trong đất

Đêm đêm tâm hồn em tỏa sáng

Những vì sao ngời chói lung linh…

                       (Khoảng trời , hố bom

                                      Lâm Thị Mỹ Dạ)

Cũng như bao thanh niên trên khắp đất nước lúc bấy giờ, mười cô gái ở Ngã ba Đồng Lộc đã tạm gác lại chuyện tình duyên, chuyện chồng con để hiến dâng tuổi xuân cho đất nước. Vì thế, cho đến lúc hy sinh, các cô vẫn chưa một lần được yêu, chưa một lần hò hẹn. Nhiều nhà thơ đã dành những vần thơ xúc động nhất thể hiện sự đồng cảm sâu sắc về những khát khao hạnh phúc và sự trinh trắng của tâm hồn mười cô gái:

Mười làn môi chưa một lần hò hẹn

Mãi trẻ trung cô gái ngàn năm

Mười mái tóc chưa trai làng nhẹ vuốt

Mãi xanh cùng cây lá Trường Sơn…

                    (Viếng em – Bùi Văn Bồng)

Ở cái nơi mà sự sống và cái chết cách nhau chỉ tích tắc ấy, trong sâu thẳm tâm hồn mình, các cô càng khát khao được hò hẹn, được vuốt tóc, khát khao được nói tiếng yêu thương… nhưng loạt bom nghiệt ngã đã cướp đi niềm khát khao chính đáng ấy; để rồi mỗi người lính đi qua đều dâng dâng niềm thương cảm:

Các em đi khi mười tám tuổi xuân

Và để lại những trái tim trong trắng

 (…)

Tiếng các em thét gọi nhau 

                        trong chiến hào khói lửa

Còn cháy lòng bao chiến sĩ 

                                    xung phong…

    (Gặp lại các em – Nguyễn Đình Chiến)

 Rồi chiến tranh qua đi, thời gian dần dần phủ màu xanh cây rừng trên những vạt đồi nhưng vẫn còn đó những hố bom ngổn ngang, khô khét một thuở nào, vẫn còn đó nỗi đau của mất mát, hy sinh không thể nào khỏa lấp được. Ngày hôm qua, hôm nay và mãi mãi sau này, hàng triệu lượt người từ khắp đất nước vẫn tìm về Ngã ba Đồng Lộc để tỏ lòng ngưỡng vọng, tri ân, để cảm thấy rằng hình như mười ngôi mộ này được xây cất bằng “tiếng chim ca bên trời”, hình như mười cô gái vẫn lẩn khuất đâu đây! Tâm hồn và máu xương của các cô đã hòa vào trời mây, cây cỏ, núi sông này:

Cầm cỏ thì thấy mồ hôi

Cầm đất thì thấy dấu môi vẫn hồng…

(Mười cô gái ở Ngã ba Đồng Lộc – Đồng Đức Bốn)

10 cô gái Ngã ba Đồng Lộc. Ảnh TL

Hơn hai mươi năm sau kể từ ngày mười cô gái đi vão cõi vĩnh hằng, nhà thơ Mai Văn Phấn đã viết bài thơ Mười nén nhang ở Ngã ba Đồng Lộc, thành kính dâng lên. Đây là tác phẩm đoạt giải Nhì (không có giải Nhất) trong cuộc thi thơ của Báo Văn nghệ năm 1995. Bài thơ chỉ vẻn vẹn mười dòng lục bát tương ứng với mười nén nhang dành cho mười cô gái:

Tháng ngày gương lược về đâu

Chân trời để xõa tóc một màu cỏ non

                            *

Các cô nằm lại trên cồn

Những chùm bồ kết khô giòn trong cây

                            *

Khăn thêu những dấu tay gầy

Thành mây Đồng Lộc bay bay trắng trời

                            *

Người ơi, tôi lại gặp người

Hơi bom vẫn thổi rụng rời cát khô

                            *

Nhang này quặn nỗi đau xưa

Tôi này tôi của cơn mưa về nguồn…

Bài thơ ngắn gọn, dồn nén cảm xúc đau buồn, nhớ thương trước mười ngôi mộ. Ngôn ngữ thơ chắt lọc nhưng giàu tính gợi hình, gợi cảm. Các hình ảnh cụ thể: gương lược, bồ kết, khăn thêu, cỏ xanh… gợi lên sức sống dẻo dai, tràn đầy của tuổi trẻ. Nhà thơ nguyện làm cơn mưa về nguồn mong làm dịu bớt nỗi đau cháy lòng của những hy sinh, mất mát xưa kia và mong làm mát lòng mười cô gái trinh nguyên nơi chín suối…

Vào những ngày này, toàn dân ta đang kỷ niệm 68 năm ngày Thương binh, Liệt sĩ 27/7, tưởng nhớ những người con ưu tú của quê hương, đất nước đã anh dũng hy sinh, trong đó có mười cô gái ở Ngã ba Đồng Lộc. Khó mà nói hết được sự hy sinh cao cả của những người lính, cũng như không thể diễn tả hết lòng biết ơn sâu nặng của chúng ta hôm nay về những người đã dâng hiến máu xương cho Tổ quốc. Chúng ta hãy thành kính dâng nén tâm nhang trước Mười ngôi mộ ở Ngã ba Đồng Lộc cùng nhà thơ Trần Mạnh Hùng:

Anh về Đồng Lộc em ơi

Nén nhang tưởng niệm thay lời hát ru…

Trần Văn Lợi

Rate this post
Continue Reading

Blog

Rừng nứa | Tạp chí Văn Nghệ Thái Nguyên điện tử

Published

on

By

VNTN – Tôi sinh ra và lớn lên ở một khu rừng nứa bát ngát. Loáng thoáng vài ba cây trám, vài ba cây lim, một đôi cây loại khác, xen vào là vầu, luồng, dùng nhưng nhiều nhất vẫn là nứa. Không to khỏe như cây khác nhưng nứa có thế mạnh là sinh con đẻ cái thì không bì kịp. Những cây nứa ngộ to như cổ chân, cổ tay óng ánh, nuột nà thẳng tắp vươn lên, cây nọ tựa vào cây kia, cây già cạnh cây non, cây cao, cây thấp, cây đủ lá, cây bánh tẻ nhú mầm như các cô gái tuổi dậy thì duyên dáng. Cây già, thân vàng óng, cây đủ lá xanh ngắt, cây non xanh mỡ màng, tầng tầng, lớp lớp nứa ngộ bề thế. Nứa tép thì khiêm tốn hơn. Không thể chen lấn được với nứa ngộ, nứa tép tìm những khoảng trống mà quây quần bầu đàn thê tử. Núp bóng ngay sau khu nhà sàn là hàng chục bụi nứa tép tròn như cái nong cái nia. Hưởng mầu mỡ trên nền đất buộc trâu, thả gà, thả lợn nên cây nọ cây kia xoắn xuýt vào nhau như các bàn tay xiết chặt. Những ngọn lá vươn lên xanh thẫm, cong cong, rung rinh rất điệu đà. Từng đàn chim chào mào, sáo sậu bay lên lượn xuống đùa vui ríu rít kiếm mồi hoặc rút những cọng rơm khô trong đống rơm vàng xuộm rồi chao mình liệng mất biến trong rừng cây.

Một số nứa tép kéo nhau chạy ra các bìa rừng. Bụi nọ sát vào bụi kia chỉ chịu dời nhau ra bởi các con đường, dòng suối và đá cứng. Có đoạn bìa rừng nứa tép như thành như lũy trơ trơ dưới nắng gió vô tình. Nứa tép còn ẩn mình hai bên dòng suối chảy sâu trong rừng. Nứa tép muốn bám vào nơi quanh năm nước ngọt chảy làm nguồn cho sự sống. Rặng nứa tép chen lấn nhau hai bên bờ, có chỗ gốc nứa trèo lên cả các phiến đá. Ngọn nứa tép vươn cao cong xuống đan vào nhau như che nắng cho dòng suối róc rách ngày đêm.

Cây nứa sống cùng đời người. Bà tôi bảo: Lúc đẻ ra, bà đã cắt rốn con bằng cật nứa. Ai đã từng sống với nứa thì hiểu rõ cật nứa sắc ngọt như thế nào. Chặt nứa về, đập ra làm phên rào vườn hoặc ghép lại thành tấm lợp mái chuồng trâu chuồng gà, buộc thành bức làm vách nhà kho để củi. Bố làm một mình không cho tôi đụng vào. Bố bảo nứa sắc lắm, sờ vào đứt tay đấy. Sao bố đập nứa thoăn thoắt, lia bàn tay vào bụng cây nứa, phanh nó ra, lấy bàn chân đè lên rồi ép xuống, lấy cây nứa đã đập giập khác đan vào mà không thấy bố đứt tay đứt chân. Bố thấy tôi chưa tin, liền cầm một mảnh nứa khô, một tay cầm đoạn nứa tước nhỏ, một tay cầm quả chuối xanh. Bố khẽ đưa mảnh nứa cứa vào vỏ quả chuối, cứa nhẹ thế mà nhát nào cũng đứt, vết đứt nhỏ không rõ mà nhựa trắng ứa ra. Bố bảo: da trẻ con non và mềm hơn vỏ quả chuối nên không được nghịch nứa. Bố giơ cật nứa lên bảo: cây nứa có lớp vỏ bọc ngoài rất cứng tựa như rất nhiều hạt cát già xếp vào nhau nên sắc như mảnh chai mảnh lọ vỡ. Đây cũng là nét riêng của nứa mà loài khác không có.

Nứa sống với người làm bầu làm bạn thủy chung. Từ hàng rào nứa tép vườn rau, cắm cho cây đỗ cây bầu cây mướp leo lên. Nứa đan phên che nắng che mưa che gió rét cho người cho trâu, bò, lợn, gà… Nứa tép làm việc nhỏ, nứa ngộ dùng vào việc lớn hơn. Những bè gỗ, tre, vầu cõng trên lưng những bó nứa xuôi dòng sông về đồng bằng theo tiếng gọi của đồng quê. Đã có một thời khá dài những tấm cót nứa bó tròn được sử dụng biết bao nhiêu công việc phục vụ đời sống nông thôn cũng như thành phố. Hàng ngày, bếp lửa cháy bập bùng, những cây nứa tép khô cháy nổ lép bép bên cạnh ngọn lửa gỗ âm thầm tạo nên âm thanh thật vui thật ấm áp. Lớn lên đi học thời kháng chiến chúng tôi chặt cây vầu, cắt một đoạn gỗ làm bánh xe lồng vào đầu to thành một cái xe một bánh. Nứa tép khô, đạp giập, bó lại thành bó dài khoảng hơn cánh tay, buộc chống vào cây vầu. Trước khi đi học, gắp một hòn than gỗ nhét vào đầu bó nứa. Tập trung ở một điểm, túi sách buộc chặt bên sườn hô “chạy”. Tất cả chúng tôi bắt đầu chạy vào đường mòn đến lớp học. Chạy đến đâu, ngọn đuốc sáng đến đó, chiếu rõ con đường trong rừng. Nghe có tiếng máy bay địch, có bạn hô “máy bay” tất cả dừng lại, bó đuốc lập tức tắt ngay. Đầu các bó đuốc chỉ còn lập lòe. Trong bóng đêm chúng tôi đều tủm tỉm cười vì che được mắt bọn “bà già” đáng ghét.

Nứa thật anh dũng. Trong kháng chiến chống Pháp căn hầm chữ chi đào dưỡi bụi nứa thật là mát mẻ, an toàn. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, những căn hầm chữ A, được xếp trên nóc những bó nứa tép buộc chặt dựng đứng vào nhau. Hàng trăm ngọn nứa phạt sắc nhọn chổng lên trời thách thức. Một thời chưa có cốp pha tôn sắt, những cây nứa tép ghép sát vào nhau chặt xít, trên lót cót nứa đưa lên tầng làm cốp pha đỡ lấy hàng tấn sắt thép bê tông đổ mái…

Nhưng chặt nứa không phải dễ dàng. Chặt nứa phải dùng dao thật sắc. Quê tôi hay dùng dao quắm, loại dao đầu lưỡi có một đoạn cong lại. Khi chặt bàn chân phải cách xa gốc ít nhất một tầm dao. Sau nhát chém đứt, cây nứa bao giờ cũng lao thẳng cắm phập xuống đất. Nếu không để ý cây nứa sắc sẽ cắm ngập bàn chân vì nó dồn trọng lượng cả cây cộng với sức nén của gió và sức ép của cây khác trở thành tốc độ lao xuống nhanh vô cùng. Gốc càng cao chặt càng phải nhanh tay nhanh mắt mới bắt được cây nứa gọn gàng.

Lần đầu tiên đi theo bố ra suối chặt nứa tép tôi nhớ tới tận bây giờ. Vừa giơ tay vít ngọn một cây nứa xuống lối vào bụi nứa tép định chặt, tôi phát hiện ra không biết bao nhiêu là vắt. Vắt xanh, vàng, trắng đủ loại. Vắt tung hoành ngang dọc, những con vắt nhỏ đậu trên lá nứa cứng, nó mềm mại cong gập mình lại rồi như cái cánh cung, nó bật lên dính ngay vào bất kể chỗ nào trên mặt, mũi, quần áo. Chưa kịp phẩy con này xuống, con khác đã bay lên. Bố tôi cười bảo: “Cứ làm đi, càng đứng yên vắt càng tấn công. “Chặt xong một bó nứa thể nào cũng bị vài con vắt cắn no mòng”.

Ôi rừng nứa, dù đã chuyển nhà về thành phố vài chục năm, nhưng nhớ về rừng nứa ngày xưa, lòng tôi vẫn không khỏi bồi hồi.

Nguyễn Đình Tân

Rate this post
Continue Reading

Trending

Bạn không thể sao chép nội dung của trang này